TRÍCH DẪN TRONG SÁCH

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ HIỆU ỨNG LẬT SÁCH

HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ THƯ VIỆN THPT NGUYỄN THỊ MINH KHAI

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH HAY CỦA THƯ VIỆN

VĂN HỌC - CẢM NHẬN TÁC PHẨM

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    THÔNG BÁO

    LỊCH MƯỢN ĐỌC TẠI THƯ VIỆN

    Ảnh ngẫu nhiên

    BANDOKINHTE.jpg Gioi_han_sinh_thai_xuong_rong.png Gioi_han_sinh_thai_cua_tam.png Gioi_han_sinh_thai_ca_ro_phi.png HB_NHOMNUOC.jpg HB_MDDS.jpg Ban_do_cac_nuoc_Dong_Nam_A.jpg TDMNPB_tunhien.jpg Dctna.jpg Tntna.jpg BANDOTUNHIEN.jpg

    KIẾN THỨC LỊCH SỬ - TỰ HÀO VIỆT NAM

    .💕💕Thư viện không phải là nơi để ghé qua trong vội vã, mà là nơi yên bình ta chọn dừng chân giữa bộn bề cuộc sống. Nơi đây, mỗi cuốn sách đều như một mảnh ghép của thời gian, gói ghém những tri thức và câu chuyện của biết bao thế hệ💕💕

    TRƯỜNG THPT NGUYỄN THỊ MINH KHAI (ĐỨC THỌ) 50 NĂM NIỀM TIN VÀ KHÁT VỌNG

    Xứ đàng trong 1621

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
    Ngày gửi: 18h:14' 07-04-2024
    Dung lượng: 554.4 KB
    Số lượt tải: 2
    Số lượt thích: 0 người
    https://thuviensach.vn

    Thông tin ebook
    Xứ Đàng Trong Năm 1621 - Cristoforo Borri
    Dịch giả: Nguyễn Khắc Xuyên
    Thể loại: History
    Tạo và hiệu chỉnh ebook: Hoàng Nghĩa Hạnh
    Diễn đàn Tinh Tế
    Dự án ebook định dạng epub chuẩn cho mọi thiết bị di động
    http://dl.dropbox.com/u/46534480/library/_catalog/
    OPDS catalog:
    http://dl.dropbox.com/u/46534480/library/_catalog/index.xml

    https://thuviensach.vn

    CHƯƠNG 1: VỀ QUỐC HIỆU, VỊ TRÍ VÀ DIỆN
    TÍCH
    Xứ Đàng Trong [1] được người Bồ gọi như vậy nhưng trong tiếng
    bản xứ là Annam [2] có nghĩa là miền Tây. Đối với nước Tàu, xứ này
    thực sự nằm ở phía Tây. Nhưng người Nhật gọi xứ này là Cochi [3],
    trong tiếng bản xứ của họ, cũng có nghĩa là Annam trong tiếng Đàng
    Trong. Nhưng người Bồ đã vào nước Annam để buôn bán, họ dùng tiếng
    Nhật Coci và tiếng Tàu Cina mà làm thành tiếng thứ ba là Cocincina để
    chỉ xứ này, chủ ý phân biệt Cocin cạnh Cina với tỉnh Cocin thuộc An Độ,
    do người Bồ chiếm đóng. Còn trong các bản đồ thế giới thì xứ Đàng
    Trong thường được ghi là Cauchinchine hay Cauchine hay tương tự, ấy
    chỉ là vì do ghi sai hoặc vì tác giả làm bản đồ muốn cho người ta biết xứ
    này như là cửa vào và là khởi đầu của Trung Quốc.
    Xứ này, về hướng Nam, giáp vĩ tuyến 11 [4], về hướng Bắc, xế về
    Đông Bắc, giáp xứ Đàng Ngoài, về hướng Đông, có biển Đông và về
    hướng Tây, xế về Tây Bắc, giáp nước Lào.
    Còn về diện tích thì tôi chỉ nói về Đàng Trong vốn là một phần của
    đại vương quốc Đàng Ngoài, trước kia thuộc về ông cố của chúa đương
    thời [5] cai trị Đàng Trong, người đã chống lại chính vua nước Đàng
    Ngoài. Cho tới nay người Bồ chỉ buôn bán với xứ này và các cha Dòng
    chúng tôi cũng chỉ hoạt động ở xứ này để thiết lập đạo Kitô.
    Xứ Đàng Trong trải dài hơn một trăm dặm theo bờ biển, ở vĩ tuyến
    11, cho tới khoảng vĩ tuyến 17 [6], chỗ bắt đầu quốc gia của chúa Đàng
    Ngoài. Bề rộng không lớn lắm, chỉ chừng hai mươi dặm Ý, đất bằng,
    một bên là biển và một bên là dãy núi chạy dài có Kẻ Mọi ở [7], tên gọi
    này có nghĩa là man di. Mặc dầu họ là người Đàng Trong, nhưng họ
    không nhìn nhận chúa cũng không thần phục ngài. Họ đóng đô và chiếm
    giữ miền núi rất hiểm trở.
    Xứ Đàng Trong chia thành năm tỉnh. Tỉnh thứ nhất là nơi chúa ở
    ngay sát xứ Đàng Ngoài gọi là Thuận Hóa. Tỉnh thứ hai là Cacciam[8],
    nơi hoàng tử làm trấn thủ. Tỉnh thứ ba là Quamguia [9]. Thứ tư là

    https://thuviensach.vn

    Quingnim [10], người Bồ đặt tên là Pulucambis và tỉnh thứ năm là Renran
    [11].
    Chú thích
    [1] Chúng ta đang ở thời kỳ Nam Bắc phân tranh, chúa Trịnh ở Bắc
    và chúa Nguyễn ở Nam.
    [2] An Nam, miền Nam được bình định, chứ không phải miền Tây
    như Borri nói. Lý Anh Tôn được nhà Tống tôn làm An Nam quốc vương.
    Đó là năm Giáp Thân 1164.
    [3] Có thể gốc là Giao Chỉ. Thực ra chữ Cocincina được nhận để
    phân biệt với tỉnh Cochin ở An Độ.
    [4] Về ngành hàng hải, người Bồ và người Tây rất thành thạo.
    Người Hà Lan cũng đã giỏi về thuật đi biển và người ta đã bắt đầu vẽ
    bản đồ thế giới với những vĩ tuyến, đường xích đạo. Vào thế kỷ 15, 16
    trung tâm địa dư là ở Roma.
    [5] Lúc ngày Nguyễn Phúc Nguyên (1613-1635) làm chúa ở Đàng
    Trong tục gọi là chúa Sãi. Như vậy ông cố tức là Nguyễn Kim thân sinh
    của Nguyễn Hoàng. Nguyễn Hoàng (1600-1613), tục gọi là chúa Tiên.
    [6] Kỳ lạ thay, Hiệp định Genève đã coi vĩ tuyến 17 làm ranh giới
    tạm thời giữa hai miền Nam-Bắc (1954).
    [7] Dãy núi Trường Sơn. Chữ “Mọi” đối với ta vẫn còn nghĩa hèn
    kém (ở đây chỉ dân tộc ít người)
    [8] Quảng Nam
    [9] Quảng Ngãi
    [10] Quy Nhơn
    [11] Theo bản đồ 1651: 1. Quảng Bình (Dinh Công); 2. Thuận Hóa
    (Dinh Cả); 3. Quảng Nam (Dinh Chiêm); 4. Quảng Ngãi; 5. Quy Nhơn
    (Nước Mặn, Nước Ngọt); 6. Phú Yên (Ranran, Dinh Phó An)

    https://thuviensach.vn

    CHƯƠNG 2: VỀ KHÍ HẬU VÀ ĐẶC TÍNH
    LÃNH THỔ ĐÀNG TRONG
    Như đã nói ở trên, xứ này ở vào giữa vĩ tuyến 11 và 17, do đó, nóng
    chứ không lạnh. Tuy vậy xứ này lại không nóng như An Độ, mặc dầu
    cũng vĩ tuyến như nhau và thuộc về miền nhiệt đới như nhau. Lý do sự
    khác biệt này là ở An Độ không phân rõ bốn mùa. Mùa hạ kéo dài tới chín
    tháng liên tục. Trong thời gian đó, không thấy có một chút mây trên trời,
    ngày cũng như đêm, thành thử không khí luôn luôn bị thiêu đốt bởi ánh
    nắng mặt trời. Ba tháng còn lại được kể là mùa đông, không phải vì
    thiếu nóng, mà là vì mưa liên tục, thường là cả ngày lẫn đêm trong mùa
    này. Nói theo kiểu bình thường thì mưa liên tục như thế hẳn phải làm
    không khí mát dịu. Tuy nhiên, vì mưa vào tháng năm, tháng sáu, tháng bảy,
    lúc mặt trời ở điểm cao nhất, ở tột đỉnh của An Độ và lại không hề có
    ngọn gió nào khác ngoài những ngọn gió thật nóng, nên không khí rất
    ngột ngạt, làm cho nhiệt độ khó chịu hơn là vào chính giữa mùa hạ vì lúc
    này thường có gió nhẹ thổi từ biển vào đem khí mát cho nội địa. Nếu
    không có sự an bài đặc biệt, thì không sao ở được trong những xứ sở này.
    Ở Đàng Trong thì không thế bởi vì có đủ bốn mùa trong năm, tuy
    không rõ ràng như ở Châu Au vốn có khí hậu ôn hòa hơn. Mùa hạ gồm ba
    tháng sáu, bảy, và tám, cũng rất nóng vì ở vào miền nhiệt đới và mặt trời
    trong những tháng đó cũng ở điểm cao nhất trên đầu chúng ta. Nhưng vào
    tháng chín, mười và mười một thuộc mùa thu thì hết nóng và khí hậu dịu
    bởi có mưa liên tục, nhất là ở miền núi Kẻ Mọi. Do đó nước lũ làm ngập
    khắp xứ, đổ ra biển, như thể đất liền và biển chỉ còn là một. Cứ mười
    lăm hôm lại xảy ra một trận lụt và mỗi lần kéo dài ba ngày. Ích lợi của
    nước lũ là không những nó làm cho không khí mát mẻ, mà còn đem phù sa
    làm cho đất phì nhiêu và dồi dào về mọi sự, nhất là về lúa là thức ăn tốt
    nhất trời ban và là lương thực chung cho khắp xứ. Còn vào ba tháng mùa
    đông – tháng chạp, tháng giêng và tháng hai thì có gió bắc thổi, đem mưa
    đủ lạnh để phân biệt mùa đông với các mùa khác trong năm. Sau cùng vào
    các tháng ba, tư và năm, hiện rõ các hiệu quả của một mùa xuân thú vị,
    tất cả đều xanh tươi và nở hoa.

    https://thuviensach.vn

    Nhân tiện nói về lụt, tôi xin kể thêm ở chương này một vài sự kỳ
    lạ người ta gặp thấy trong dịp này.
    Trước hết mọi người ở đây đều mong nước lũ, không những để
    được mát mẻ và dễ chịu, mà còn để cho đồng ruộng được mầu mỡ. Thế
    nên khi thấy mùa nước tới, họ để lộ hẳn sự vui mừng và thích thú: họ
    thăm hỏi nhau, chúc mừng nhau, ôm nhau hò hét vui vẻ và nhắc đi nhắc
    lại “đã đến lụt, đã đến lụt” [1] có nghĩa là nước đã tới, nước đã tới rồi.
    Nói tóm lại là không ai là không bày tỏ niềm vui, từ kẻ thế gia đến chúa
    cũng vậy.
    Nhưng thường thì nước lũ tới bất thần, không ai ngờ, ban chiều
    chưa ai nghĩ tới, nhưng sáng ra nước đã kéo vào tư bề, và người ta bị
    nhốt trong nhà, tình trạng này diễn ra khắp xứ. Do đọ họ thường mất hết
    gia súc vì không kịp đưa chúng chạy lên núi hay những nơi cao hơn.
    Vào trường hợp này, có một luật kì lạ ở xứ này là bò, dê, lợn và các
    vật khác bị chết đuối thì không còn thuộc về chủ, nhưng đương nhiên
    thuộc về người thứ nhất vớt được. Đây cũng là một điều làm cho người
    ta vui thích một cách lạ lùng: vừa có lụt, mọi người đều nhảy xuống
    thuyền bơi đi tìm vớt gia súc chết đuối, để rồi làm thịt và dọn cỗ linh
    đình.
    Còn trẻ con thì tuỳ theo tuổi, chúng để mắt và vui thú rình trên cánh
    đồng lúa mênh mông đầy rẫy chuột lớn, chuột bé, vì hang ngập nước nên
    chúng phải ngoi ra, bò lên cây để thoát, thành thử thật là rất vui mắt khi
    được nhìn thấy những cảnh cây nặng trĩu những chuột thay vì lá hay quả.
    Từng đám trẻ con trên các chiếc thuyền nhỏ của chúng tới rung cây làm
    các con vật này rớt xuống nước và chết đuối. Trò đùa nghịch và giải trí
    của trẻ con, nhưng thực ra có ích lợi lớn cho đồng ruộng vì thoát được
    những con vật gây thiệt hại nặng cho những cánh đồng rộng lớn.
    Cái lợi cuối cùng, không phải là nhỏ, đó là người ta đều có thể sắm
    sửa cho đủ mọi thứ cần dùng. Vì trong ba ngày này, nước lụt làm cho
    người ta có thể đi lại khắp nơi bằng thuyền một cách rất dễ dàng đến
    độ không có gì mà không chuyển được từ nơi này qua nơi khác. Do đó,
    người ta dành thời gian này để họp chợ, những phiên chợ có tiếng nhất
    trong xứ, số người đến họp chợ trong dịp này đông hơn bất kỳ buổi họp
    chợ nào khác trong năm. Cũng trong ba ngày này, người ta đi lấy cây để
    thổi nấu và dựng nhà. Họ chất cây từ trên núi vào thuyền và dễ dàng bơi
    qua các nẻo, các ngõ và tới tận nhà vốn được cất trên các hàng cột khá

    https://thuviensach.vn

    cao để cho nước ra vào tự do. Ai cũng leo lên sàn cao nhất và phải khen
    họ vì không bao giờ lụt bén tới bởi họ đã lấy kích thước chính xác, do
    kinh nghiệm lâu năm, của mực nước cao thấp, do đó họ không sợ vì họ
    biết chắc là nước luôn ở phía dưới nhà họ.
    Chú thích
    [1] Buzomi tới Đàng Trong năm 1615, de Pina tới năm 1617 và Borri
    với Marquez tới năm 1618. Cha De Pina rất thông thạo tiếng Việt và là
    thầy dạy De Rhodes sau này

    https://thuviensach.vn

    CHƯƠNG 3: ĐẤT ĐAI PHÌ NHIÊU
    Người ta dễ dàng nhận thấy là nước lụt đã làm cho đất đai ở xứ
    Đàng Trong phì nhiêu, như chúng tôi vừa nói. Tuy nhiên, tôi thấy còn phải
    kể nhiều sự đặc biệt khác nữa.
    Nước lụt làm cho đất mầu mỡ và phì nhiêu nên mỗi năm có ba vụ
    lúa [1], đầy đủ và dồi dào đến nỗi không ai phải lam lũ vất vả để sinh
    sống, ai cũng sung túc.
    Quanh năm có rất nhiều và có đủ thứ trái cây như ở An Độ, vì xứ
    Đàng Trong có cùng khí hậu như ở An. Nhưng đặc biệt là cam ở Đàng
    Trong trái lớn hơn ở Châu Au to và rất ngọt. Vỏ rất dể bóc, mềm và
    ngon, cam có thể ăn được cả vỏ lẫn ruột và có mùi vị thơm như trái
    chanh [2] ở Ý. Ở đây người ta cũng thấy một số trái khác người Bồ gọi
    là chuối, người khác gọi là vả An Độ. Theo ý tôi thì không xác đáng vì ở
    An không có cây nào được gọi là vả, và cây ở Đàng Trong không có gì
    giống cây vả của chúng ta, về thân cây cũng như về trái. Về thân cây thì
    nó giống như cây chúng ta gọi là “lúa mì Thổ Nhĩ Kỳ” tuy cao lớn hơn, là
    rất dài và rất to bản, đến độ chỉ cần hai lá cũng đủ để có thể che một
    người từ chân đến đỉnh đầu và bao quanh cả người. Do đó mà có người
    muốn gọi cây này là “cây vườn địa đàng” và Ađam đã lấy lá của nó để
    che giấu sự trần truồng của mình [3]. Cây này trổ ngay trên ngọn một
    buồng gồm hai mươi, ba mươi hay bốn mươi trái cột chặt với nhau, mỗi
    trái về hình thù, bề dài và độ lớn, đều giống trái chanh thông thường ở Ý.
    Khi trái chưa hoàn toàn chín thì vỏ xanh và sau đó trở nên vàng giống hệt
    như chanh. Không cần dùng dao để bổ hay gọt vỏ, người ta lột vỏ rất dễ
    dàng như bóc đâu mới hái. Mùi thì rất thơm, ruột vàng và khá cứng chắc
    như một trái lê bergam chín muồi của ta, dễ tan trong miệng. Do đó
    không thể nói là nó giống cây vả của chúng ta được, trừ vị thơm ngon và
    dịu ngọt. Cũng còn một thứ trái khác thuộc loại này, người ta sấy và
    ngâm rượu [4]. Hàng năm, sau khi cây có trái, sẽ héo đi và một nhánh con
    trổ ở gốc để cho năm sau. Ở Ý chúng ta gọi là cây vả An Độ, nhưng thực
    ra không có gì giống về cây cũng như về trái chuối này. Bây giờ chúng tôi
    nói tới cây (chúng ta gọi là cây vả An Độ, nhưng không phải là cây người
    ta thấy ở những miền này).

    https://thuviensach.vn

    Trái này có rất nhiều ở hầu hết các tỉnh An Độ, nhưng ở Đàng
    Trong còn một thứ không thấy ở Trung Quốc cũng như ở khắp An Độ.
    Trái nó to, như trái chanh lớn nhất ở Ý và to đến nỗi chỉ căn một trái cũng
    đủ no. Ruột thì trắng và có rất nhiều hạt nhỏ đen và tròn, người ta nhai
    lẫn với ruột. Các hạt này có vị thơm ngon và rất tốt cho dạ dày.
    Ở Đàng Trong cũng còn một loại trái cây nữa, tôi không thấy có ở
    An Độ, người ta gọi là cam [5]. Về hình thù và chất vỏ, nó giống như lựu
    của ta, nhưng ruột bên trong hơi lỏng phải dùng thìa để múc và có vị
    thơm và có màu gần giống trái sơn trà chín.
    Họ cũng có thứ giống như trái anh đào của ta, nhưng mùi vị thì lại
    như trái nho theo tiếng họ gọi là gnoo.
    Họ không thiếu dưa, nhưng không ngon bằng dưa của ta, nên phải
    ăn với đường hay mật. Dưa gang hay dưa nước, như nhiều người gọi,
    rất to và rất tuyệt.
    Có một trái gọi là mít. Trái này cũng có ở An Độ, nhưng không
    ngon bằng trái ở Đàng Trong. Trái mọc ở trên một cây cao như cây hồ đào
    và cây dẻ của ta, nhưng gai thì dài hơn nhiều. Trái to như trái bí ngô lớn ở
    Ý và chỉ cần một trái cũng đủ cho một người vác. Bề ngoài nó có hình
    thù của một nón thông, nhưng ruột thì dịu và mềm. Bên trong thì đầy
    những múi vàng có hột dẹp và tròn như đồng tiền ở Ý hay đồng “teston”
    (ở Pháp). Ở giữa mỗi múi có hạt [6] người ta bỏ đi không ăn. Có hai
    loại[7], một loại người Bồ gọi là “giaca barca”, dóc hột, ruột cứng. Loại
    thứ hai không dóc hột và ruột không cứng bằng, rất mềm và nát như keo.
    Mùi vị của cả hai loại này rất ngon gọi là sầu riêng chúng tôi sẽ nói sau
    đây.
    Trái “durion” (sầu riêng) là một trong những trái ngon nhất hoàn
    cầu, không thấy có ở đâu trừ ở Malacca, Bornéô và mấy đảo xung quanh.
    Không có gì để nói giữa cây này và cây mít. Bên ngoài, trái này cũng
    giống trái mít và trái thông của ta, cả về kích thước cũng như độ cứng
    của vỏ. Còn thịt thì bám vào hột như keo, rất trắng, còn mùi vị thì giống
    như món đông hạnh nhân của người Ý [8]. Thịt và nước ngọt của nó
    được chứa trong mười hay mười hai ngăn nhỏ, mỗi ngăn có nhiều múi
    thịt trắng bọc quanh hột, to bằng hạt dẻ lớn nhất của ta. Khi mở ra thì
    xông mùi khó chịu như mùi hành thối, nhưng ở trong thì không có mùi và
    lại rất thơm ngon. Tôi kể ở đây một câu chuyện xảy ra trước mắt tôi. Số
    là có một người muốn cho một giáo sĩ cao cấp mới tới Malacca thưởng

    https://thuviensach.vn

    thức trái này và không báo trước. Ông mở một trái ngay trước mặt vị giáo
    chủ. Mùi khá nặng và khó chịu xông ra làm cho giáo chủ ghê sợ và nản
    không dùng được. Nhưng lúc ngồi vào bàn tiệc, trong các món ăn có một
    món chỉ toàn là trái cây có mùi vị thơm giống món đông hạnh nhân làm
    cho giáo chủ dễ lầm cũng như bất cứ ai chưa được biết trước. Ông vừa
    đưa tay lấy một miếng thứ nhất và nếm thì thấy rất ngon làm ông bỡ
    ngỡ và hỏi xem người đầu bếp nào khéo dọn món đông hạnh nhân ngon
    đến thế. Chủ nhà mỉm cười trả lời là chẳng có hỏa đầu quân nào ngoài
    Thiên Chúa cao cả đã cho xứ này một trái hiếm gọi là sầu riêng mà lúc
    đầu ông đã ghê sợ. Nghe tới đây vị giáo chủ sửng sốt và hết lời ca ngợi,
    ông dùng rất ngon miệng. Thế nhưng trái này ngon đến độ ngay ở
    Malacca là nơi sản sinh, nhiều khi giá lên tới một đồng “êcu” một trái.
    Xứ Đàng Trong còn có một loại trái khác người Bồ gọi là dứa. Và
    tôi biết trái này cũng rất thông thường ở khắp An Độ và ở Brésil. Tuy
    nhiên, vì tôi thấy người ta tả không đúng theo ý tôi lắm, nên tôi nghĩ là
    phải nói một chút. Trái này không trổ trên cây, cũng không do hạt giống,
    nhưng do rễ như thể cây atisô của ta. Thân và lá hoàn toàn giống như cây
    các đông và atisô của ta. Trái hình tròn dài bằng chín ngón tay [9] và to
    như thể lấy hai vốc tay ôm vừa. Ruột ở trong thì dày như ruột cải củ,
    nhưng vỏ thì cứng hơn và sờm như vây cá. Khi chín bên trong vàng và sau
    khi lấy dao gọt vỏ thì ăn sống. Trái có vị chua dịu và khi chín thì thơm
    ngon như trái lê “bergam”.
    Ở xứ Đàng Trong còn một trái khác đặc biệt của xứ này người Bồ
    gọi là “aerca” (cau). Cây nó mọc thẳng như cây dừa, rỗng ở trong và chỉ
    đâm lá ở chóp đỉnh, lá tựa như lá dừa: ở giữa các tàu lá, nảy các ngành
    nhỏ có trái. Trái có hình thù và kích thước của trái hồ đào [10], sắc xanh
    cũng như vỏ hồ đào, còn ruột thì trắng và cứng như trái dẻ [11] chẳng có
    mùi vị gì hết. Trái này không ăn một mình, nhưng ăn với lá trầu không,
    thứ cây rất thông dụng ở khắp An Độ, lá như lá thường xuân [12] ở Châu
    Au và thân bám vào cây chống như giống cây thường xuân. Người ta hái
    lá cắt thành từng miếng nhỏ và trong mỗi miếng để một miếng cau, như
    vậy mỗi trái có thể làm thành bốn hay năm miếng. Người ta còn thêm vôi
    với cau. Vôi ở xứ này không làm bằng đá như ở Châu Au, nhưng bằng vỏ
    sò hến [13]. Vì trong nhà thường có những người chuyên lo việc bếp núc,
    chợ búa và các việc khác, nên ở Đàng Trong mỗi nhà đều có một người
    không có việc gì khác hơn là việc têm trầu, những người dùng vào việc

    https://thuviensach.vn

    này thường là đàn bà, nên gọi là các bà têm trầu. Những miếng trầu đã
    têm sẵn thì để vào trong hộp và suốt ngày người ta nhai trầu, không
    những khi ở trong nhà mà cả khi đi lại trong phố chợ, cả lúc nói, ở mọi
    nơi, mọi lúc. Và sau khi đã nhai trầu lâu và nghiền trong miệng người ta
    không nuốt mà nhả ra, chỉ giữ hương vị và phẩm chất tăng thêm sức
    mạnh cho dạ dày một cách kỳ lạ. Trái này được têm thành miếng rất
    thông dụng đến nỗi khi tới thăm ai, người ta đem theo một túi đầy trầu và
    mời người mình tới thăm, người chủ nhà lấy một miếng cho ngay vào
    miệng. Trước khi người khách từ biệt ra về, chủ nhà sai người têm trầu
    của nhà mình đem ra một túi để mời người khách đến thăm mình, như để
    đáp lại sự lịch thiệp mình đã nhận được. Do đó vì cần phải có sẵn coi
    trầu cau và có liên tục, nên cau cũng là một nguồn lợi lớn ở xứ này, có
    vườn cau thì cũng như ở xứ chúng ta có ruộng nho và ruộng ôliu. Họ
    cũng hút thuốc lá, nhưng thuốc lá không thông dụng bằng trầu cau. Cũng
    có đầy đủ các loại mướp và có cả mía nữa. Các trái cây ở Châu Au thì
    cho tới nay chưa được đưa tới xứ Đàng Trong. Tôi tin rằng nho và vả sẽ
    mọc được ở đây, những thứ rau như rau diếp, rau diếp xoắn, sú và những
    thứ rau tương tự hiện có ở Đàng Trong như ở khắp An Độ, nhưng chúng
    chỉ ra lá mà không có hạt và nếu muốn gieo thì phải đem hạt từ Châu Au
    qua.
    Thịt thà thì rất nhiều ở đây vì có vô số súc vật bốn chân nuôi trong
    nhà như bò, dê, lợn, trâu và các giống tương tự, và thú rừng như hươu nai
    to lớn hơn ở Châu Au, lợn rừng và mấy loại khác. Gia cầm như gà nhà và
    gà rừng rất nhiều ở thôn quê, chim gáy, chim bồ câu, vịt, ngỗng, sếu, thịt
    thơm ngon và sau cùng là mấy thứ khác ở Châu Au không có.
    Ngành ngư nghiệp cũng rất thịnh vượng và cá ở đây có hương vị
    tuyệt diệu và rất đặc biệt, tôi đã qua nhiều đại dương, đã đi nhiều nước,
    nhưng tôi cho rằng không nơi nào có thể so sánh được với xứ Đàng
    Trong. Và như tôi đã viết, xứ này chạy dọc bờ biển, nên có rất nhiều
    thuyền đánh cá và rất nhiều thuyền tải cá đi khắp xứ, từng đoàn người
    chuyển cá từ biển tới tận miền núi, có thể nói trong một ngày hai mươi
    bốn tiếng đồng hồ thì ít ra họ dùng tới hai mươi tiếng để làm việc này.
    Thực ra người Đàng Trong ăn cá nhiều hơn ăn thịt. Họ chuyên chú đánh
    cá chủ yếu là vì họ rất ham thứ nước “sốt” [14] gọi là balaciam [15] làm
    bằng cá ướp muối cho mềm và làm nhão ra trong nước. Đây là một thứ
    nước cốt cay cay tựa như mù tạt (moutarde) của ta, nhà nào cũng dự trữ

    https://thuviensach.vn

    một lượng lớn đựng đầy trong chum, vại như tại nhiều nơi ở Châu Au,
    người ta dự trữ rượu. Thứ nước cá này dùng một mình thì không nuốt
    được nhưng được dùng để gợi nên hương vị và kích thích tì vị để ăn cơm
    vốn nhạt nhẽo và không có mùi vị nếu không có thứ nước đó. Vì cơm là
    thức ăn chung và thông thường của xứ Đàng Trong, nên cần phải có rất
    nhiều balaciam (nếu không thì không có mùi vị) và do đó phải có một
    lượng lớn nước mắm và cũng do đó phải liên tục đánh cá. Cũng không ít
    sò, hến và các hải sản khác, nhất là một thứ họ gọi là cameron [16].
    Nhưng ngoài tất cả những gì đã nói, Thiên Chúa quan phòng còn
    dành cho họ một thức ăn hiếm và ngon, theo thiển ý tôi, chỉ có thể so
    sánh được với manna [17] Thiên Chúa dùng để nuôi dân riêng của Người
    trong sa mạc và thức ăn này rất đặc biệt chỉ có ở xứ Đàng Trong chứ
    không đâu có. Những điều tôi sẽ nói thì không phải bởi tôi đã nghe hay
    theo người khác kể lại, nhưng chính tôi có kinh nghiệm, tôi đã thấy và
    thường được ăn. Ở xứ này có một thứ chim be bé giống như chim én, nó
    làm tổ [18] ở các cồn đá và hốc đá sóng biển vỗ vào. Con vật nhỏ này
    dùng mỏ lấy bọt biển và với chất toát ra từ dạ dày, trộn cả hai thứ lại
    làm thành một thứ tôi không biết là bùn hay nhựa để làm tổ. Tổ này khi
    đã khô cứng thì trong suốt và có sắc vừa vàng vừa xanh. Dân xứ này nhặt
    những tổ đó về ngâm trong nước cho mềm và tan rã, rồi dùng làm đồ gia
    vị trộn với thịt, các thứ thịt, cá, rau, hoặc thứ nào khác làm cho các món ăn
    có một hương vị khác nhau tuỳ món như thể đã sẵn cho hồ tiêu, quế, đinh
    hương hay các thứ gia vị khác, như vậy chỉ một tổ yến mà có thể làm gia
    vị cho hết các thứ thịt, không cần thêm muối, dầu, mỡ hay thứ gì tương
    tự. Vì thế tôi nói, nó giống như manna, có hương vị của hầu hết các món
    thơm ngon nhất, chỉ khác, một đàng là do công trình của một con chim bé
    nhỏ và một đàng là do tay các thiên thần của Thượng Đế nhào nặn. Thứ
    này nhiều đến nỗi chính tôi đã thấy người ta chất đầy mười chiếc
    thuyền nhỏ những tổ yến nhặt ở dọc các hốc núi đá, trong khoảng chưa
    đầy nửa dặm. Và đây là món rất ngon, nên chỉ có chúa độc quyền sử
    dụng, người ta dành tất cả cho ngài và ngài đem một số lớn cống vua Tàu
    là người rất chuộng.
    Dân ở đây không dùng sữa, họ cho là trọng tội nếu vắt sữa bò, họ
    sợ nếu làm việc đó là mang tội, vì theo thiên nhiên thì sữa dành để nó
    nuôi con. Như thể bò nuôi con mà không được sử dụng thứ lương thực
    dành riêng cho con.

    https://thuviensach.vn

    Họ còn ăn mấy thứ chúng ta rất sợ và chúng ta coi như độc, thí dụ
    con tắc kè, con vật này nhỉnh hơn những con đã phơi khô nhập cảng từ
    ngoại quốc và thường đem về Ý. Tôi đã thấy người bạn tôi mua mấy
    con, buộc lại thành bó và đem nướng trên than hồng. Giây buộc đứt và
    chúng bò lê thê theo kiểu của chúng trên than hồng cho tới lúc thấy sức
    nóng thì chúng chống đỡ một chút vì lúc này rất lạnh, nhưng cuối cùng
    chúng bị thiêu và nướng chín. Thế là ông bạn tôi lôi ra, lấy dao lóc lớp da
    đã cháy, thịt nó rất trắng, ông bạn tôi nghiền thịt ra và trộn với một thứ
    “nước sốt” đem đun chín rồi bỏ bơ vào ăn như một thứ thịt rất thơm
    ngon. Ông mời tôi, nhưng tôi không dùng, chỉ nhìn theo mà thôi.
    Còn về tất cả những gì thuộc đời sống hằng ngày, xứ Đàng Trong
    cũng rất đầy đủ. Thứ nhất là áo mặc, họ có rất nhiều tơ lụa đến nỗi dân
    lao động và người nghèo cũng dùng hàng ngày. Vì thế đã hơn một lần tôi
    rất thích thú khi thấy đàn ông, đàn bà khuân vác đá, đất, vôi và những vật
    liệu tương tự mà không hề cẩn thận giữ cho áo đạp và quý họ mặc khỏi
    rách hay bẩn. Điều này không có gì lạ, nếu biết rằng có những cây dâu
    cao lớn người ta hái lá để nuôi tằm được trồng trong những thửa ruộng
    rộng lớn như cây gai ở bên ta, và mọc lên rất chóng. Thế nên chỉ trong
    một ít tháng là tằm được đưa ra nuôi ngoài khí trời và đồng thời nhả tơ,
    làm thành những cái kén nhỏ với số lượng rất nhiều và dư thừa đến nỗi
    người Đàng Trong đủ dùng riêng cho mình mà còn bán cho Nhật Bản và
    gửi sang nước Lào để rồi đưa sang Tây Tạng [19]. Thứ lụa này tuy không
    thanh và mịn nhưng bền và chắc hơn lụa Tàu.
    Nhà cửa và đền đài, mặc dầu chỉ bằng gỗ, nhưng không thua kém
    bất cứ nước nào, bởi vì không nói quá chút nào, gỗ ở xứ này là gỗ quý
    nhất hoàn cầu, theo nhận xét của những người ở các nơi đó. Trong vô số
    cây và vô số loại cây ở đây, có hai thứ thường được dùng để làm nhà cửa
    và là thứ không bao giờ hư mặc dầu bị ngâm trong nước hay vùi trong
    bùn, và rất chắc, rất nặng đến nỗi không bao giờ nổi trên mặt nước và
    dùng làm neo tàu. Một thứ là gỗ đen, nhưng không phải đen như mun,
    loại thứ hai có mầu đỏ hung. Cả hai sau khi được lóc vỏ thì nhẵn và trơn
    không cần phải bào. Các cây đó gọi là Tin [20] và rất có thể người đó
    không lầm khi nói rằng thứ gỗ không bao giờ hư đó là gỗ chính vua
    Salomon đã dùng để dựng Đền thánh và chúng ta được biết qua Kinh
    Thánh rằng thứ cây này được gọi bằng một cái tên rất gần với tên này,
    ligna thying [21]. Núi xứ Đàng Trong mọc đầy loại cây này, thẳng tắp và

    https://thuviensach.vn

    cao ngất nghểu, như thể ngọn chạm tới mây và lớn bằng hai người ôm.
    Người Đàng Trong dùng gỗ này để dựng nhà và ai nấy đều có thể lên núi
    chặt tuỳ thích. Tất cả kiến trúc nhà đều dựa vào hàng cột cao, chắc và
    đóng rất sâu, rồi lắp ván, nhưng người ta có thể tháo gỡ ra và thay thế
    bằng phên liếp, bằng tre, sậy đan rất tài tình để thông khí trong mùa nóng
    bức và một phần nào cho nước và thuyền qua lại tự do vào mùa lụt lội
    như chúng tôi đã nói ở trên. Họ cũng làm rất nhiều hoa lá nhỏ xinh và
    nhiều hình hài khéo léo để tô điểm trang trí nhà của họ, họ chạm trổ và
    đẽo gọt gỗ ván rất công phu.
    Vì chúng tôi đang nói về cây cối và trước khi qua đề tài khác, tôi
    xin thêm ít điều về một loại gỗ vốn là món hàng quý nhất có thể xuất từ
    xứ Đàng Trong ra các nước ngoài. Đó là thứ gỗ nổi tiếng gọi là aquila và
    calamba [22]; cùng loại gỗ nhưng khác về tác dụng và sự quý chuộng
    người ta dành cho chúng.
    Loại cây này có rất nhiều, nhất là trên núi Kẻ Mọi, cây rất to và rất
    cao. Nếu gỗ cắt ở thân cây non thì là trầm hương, có rất nhiều và ai
    muốn lấy bao nhiêu tuỳ thích. Nhưng khi lấy ở gốc già thì đó là kỳ nam
    rất khó hiếm, vì hình như thiên nhiên cho những cây đó mọc lên ở những
    ngọn núi cao nhất và hiểm trở nhất để được thảnh thơi già cỗi đi, không
    ai làm hại được mình. Thỉnh thoảng có ít cành gẫy và rời khỏi thân rơi
    xuống, hoặc vì khô quá hoặc vì già cỗi quá khi người ta nhặt được thì đã
    mục nát và mốc thếch. Nhưng đó lại là thứ có giá nhất và lừng danh nhất
    gọi là kỳ nam vượt hẳn thứ trầm hương thông thường rất nhiều về tác
    dụng và về hương thơm. Trầm hương thì ai cũng có thể bán tuỳ thích
    nhưng chúa giữ độc quyền mua bán kỳ nam vì hương thơm và tác dụng
    đặc biệt của nó. Thực ra ở chính nơi nhặt được, nó rất thơm, rất dịu, tôi
    đã muốn thử mấy miếng người ta cho tôi, tôi đem chôn dưới đất sâu
    chừng hơn năm chân [23] thế mà vẫn ngửi thấy hương thơm. Kỳ nam
    nhặt tại chỗ thì giá năm đồng đuca [24] một líu, nhưng ở hải cảng xứ
    Đàng Trong, nơi buôn bán thì đắt hơn, nghĩa là hai trăm đuca một líu. Nếu
    tìm được một tấm lớn có thể làm gối để gối đầu, còn hay làm gối dài
    [25] thì người Nhật mua tới ba trăm hay bốn trăm đuca một líu. Là vì
    người ta nghiệm thấy, vì sức khỏe thì nên dùng làm gối một thứ gì cứng
    hơn là thứ gối làm bằng lông vừa không lành vừa hay sinh bệnh. Thường
    thì họ dùng một phiến gỗ, và tuỳ theo khả năng, người ta mong có được
    thứ gỗ quý nhất có thể sắm được [26]. Trầm hương thì ít được trọng

    https://thuviensach.vn

    hơn và giá cũng rẻ hơn kỳ nam, nhưng chỉ một tàu chở đầy trầm hương
    cũng đủ cho thương gia trở nên giàu có và sung túc suốt đời. Thế nên
    phần thưởng lớn nhất chúa ban cho thuyền trưởng Malacca, đó là cho
    phép ông buôn trầm hương. Bởi vì người Bàlamôn và người Banian [27]
    ở An Độ có tục hỏa thiêu xác người chết bằng gỗ rất thơm, nên họ cần
    có ngay một số lượng lớn.
    Sau cùng, xứ Đàng Trong có rất nhiều mỏ kim khí quý và nhất là
    vàng. Và để hiểu biết thêm bằng vài lời những gì đáng được kể dài dòng
    hơn nữa về sự giàu có của xứ này thì tôi kết thúc chương này bằng lời
    của các thương gia Châu Au đã có dịp tới đây. Họ quyết rằng xứ Đàng
    Trong có nhiều của cải hơn Trung Quốc mà chúng tôi biết là rất dồi dào
    về mọi thứ.
    Phải nói thêm ở đây chút ít về các thú vật chúng tôi đã nói là có rất
    nhiều ở Đàng Trong, nhưng để khỏi nói nhiều, tôi chỉ xin nói về voi và tê
    giác, nhất là ở xứ này và nhiều chuyện kỳ lạ chưa bao giờ nghe thấy.
    Chú thích
    [1] Ba vụ lúa: chúng tôi chưa biết rõ việc này.
    [2] Chanh ở Ý lớn hơn chanh của ta, màu vàng chứ không xanh như
    ta.
    [3] Theo Kinh Thánh, sau khi phạm tội ăn trái cấm, tổ tiên thấy
    mình trần truồng và phải lấy lá che thân.
    [4] Có thể là một thứ chuối “ngự” thơm và nhỏ, hay một thứ trái
    cây nào khác.
    [5] Trái nói ở trên có thể là trái ổi còn trái “cam” này có thể là trái
    thanh long.
    [6] Có thể cho trái mít cũng thuộc về loại “sầu riêng”
    [7] Mít mật và mít dai
    [8] Món hạnh nhân tán nhỏ hòa với đường, rồi để vào tủ lạnh, món
    ăn rất sang của người Châu Au vào thời này.
    [9] “Pouce” cách đo thời xưa cũng như kiểu đo gang tay hay sải.
    [10] Tiếng Pháp: noix
    [11]Tiếng Pháp: châtaignes
    [12] Tiếng Pháp: lierre, thứ như nho dại, lá xanh và leo trên tường
    [13] Thứ vôi này có màu hồng
    [14] Nước sốt (sauce), một thứ nước dùng riêng đằng đặc gồm
    nước thịt và mỡ béo để tưới vào các thức ăn khô và nhạt.

    https://thuviensach.vn

    [15] Nước mắm rất danh tiếng của ta
    [16] Chúng tôi chưa rõ đây là thứ gì
    [17] Thức ăn từ trời rơi xuống, có mùi vị theo sở thích người dùng.
    [18] Chim yến, tổ yến. “Người ta cho rằng, ban ngày chim yến đi
    kiếm ăn, nuốt cả con trong biển, rồi đêm đến nhả nước dãi thành những
    vành tròn hình xoáy ốc để xây tổ (Đỗ Tất Lợi: Những cây thuốc và vị
    thuốc ở Việt Nam, Hà Nội 1981, tr.945)
    [19] Vào thế kỷ 15, 16, 17 người Châu Au qua phương Đông nhất
    là Trung Quốc để buôn hồ tiêu và tơ lụa, vì thế có con đường gọi là con
    đường tơ lụa (route de la soie)
    [20] Gỗ lim
    [21] Chúng tôi chưa nghiên cứu xem danh từ này có nghĩa thế nào.
    Nếu là lim thì theo Đỗ Tất Lợi, sách dẫn, là những thứ cây mọc phổ biến
    của nước ta, nhất là tại những khu rừng miền Bắc và miền Trung. Còn
    thấy ở Lào, miền Nam Trung Quốc. Thường người ta khai thác gỗ làm
    nhà, làm đồ dùng. Có thể cao hơn mười thước hoặc hơn nữa (tr.361)
    [22] Trầm hương: kỳ nam là loại trầm hương quý nhất, xem: Đỗ
    Tất Lợi, sd tr.449-450.
    [23] Pied: chân, cách đo thời xưa, chừng 0.3407m
    [24] Đồng tiền này thường đúc bằng vàng vào thế kỷ 13 tại Venise
    (Ý) lúc đó là một cộng hòa độc lập và rất thịnh vượng. Líu: livre, tức nửa
    cân.
    [25] Gối dài là thứ gối theo suốt bề ngang của chiếc giường lớn.
    [26] Ở xứ nóng thường dùng gối mây hoặc gỗ, khác hẳn các xứ
    lạnh.
    [27] Không rõ thuộc tôn giáo nào, còn đạo Bàlamôn là đạo chính
    yếu của An Độ.

    https://thuviensach.vn

    CHƯƠNG 4: VOI VÀ TÊ GIÁC
    Rừng xứ Đàng Trong có rất nhiều voi, nhưng người ta không sử
    dụng được vì chưa biết cách bắt và luyện chúng. Vì thế phải đưa những
    con voi đã thuần phục và dạy dỗ từ nước láng giềng Campuchia. Voi ở
    đây lớn gấp hai voi ở An Độ. Chân và vết chân nó để lại đường kính đo
    được chừng nửa mét. Răng thò ra từ miệng gọi là ngà voi thì dài tới 4.7m,
    đó là voi đực. Ngà của voi cái thì ngắn hơn nhiều. Vì thế người ta dễ
    nhận thấy voi ở xứ Đàng Trong to lớn hơn voi người ta vẫn dẫn đi diễu
    ở Châu Au tới mức nào: ngà của các con voi này chưa được 8 tấc.
    Voi sống lâu năm. Một lần tôi hỏi tuổi một con voi tôi gặp thì
    người quản tượng đạp là đã sáu mươi tuổi ở Campuchia và bốn mươi ở
    Đàng Trong. Vì tôi đã di chuyển nhiều lần trên lưng voi ở xứ Đàng Trong
    nên tôi có thể kể lại mấy câu chuyện kỳ lạ, nhưng có thật. Voi thường
    chở tới mười ba hay mười bốn người, theo cách thức sau đây. Cũng như
    chúng ta thắng yên trên lưng ngựa, người ta cũng đặt trên lưng voi một
    bành lớn như cỗ kiệu trong đó có bốn chỗ ngồi và người ta buộc bằng
    chão sắt luồn dưới bụng voi như yên và đai ngựa. Bành có cửa mở hai
    bên và có thể chứa được sáu người, ngồi làm hai hàng, mỗi hàng ba
    người, một người ngồi ở đằng sau với hai người nữa, và cuối cùng là...
     
    Gửi ý kiến

    Việc đọc rất quan trọng. Nếu bạn biết cách đọc, cả thế giới sẽ mở ra cho bạn. (Barack Obama)

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG THPT NGUYỄN THỊ MINH KHAI - ĐỨC THỌ - HÀ TĨNH !