TRƯỜNG THPT NGUYỄN THỊ MINH KHAI (ĐỨC THỌ) 50 NĂM NIỀM TIN VÀ KHÁT VỌNG
Xứ đàng trong 1621

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 18h:14' 07-04-2024
Dung lượng: 554.4 KB
Số lượt tải: 2
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 18h:14' 07-04-2024
Dung lượng: 554.4 KB
Số lượt tải: 2
Số lượt thích:
0 người
https://thuviensach.vn
Thông tin ebook
Xứ Đàng Trong Năm 1621 - Cristoforo Borri
Dịch giả: Nguyễn Khắc Xuyên
Thể loại: History
Tạo và hiệu chỉnh ebook: Hoàng Nghĩa Hạnh
Diễn đàn Tinh Tế
Dự án ebook định dạng epub chuẩn cho mọi thiết bị di động
http://dl.dropbox.com/u/46534480/library/_catalog/
OPDS catalog:
http://dl.dropbox.com/u/46534480/library/_catalog/index.xml
https://thuviensach.vn
CHƯƠNG 1: VỀ QUỐC HIỆU, VỊ TRÍ VÀ DIỆN
TÍCH
Xứ Đàng Trong [1] được người Bồ gọi như vậy nhưng trong tiếng
bản xứ là Annam [2] có nghĩa là miền Tây. Đối với nước Tàu, xứ này
thực sự nằm ở phía Tây. Nhưng người Nhật gọi xứ này là Cochi [3],
trong tiếng bản xứ của họ, cũng có nghĩa là Annam trong tiếng Đàng
Trong. Nhưng người Bồ đã vào nước Annam để buôn bán, họ dùng tiếng
Nhật Coci và tiếng Tàu Cina mà làm thành tiếng thứ ba là Cocincina để
chỉ xứ này, chủ ý phân biệt Cocin cạnh Cina với tỉnh Cocin thuộc An Độ,
do người Bồ chiếm đóng. Còn trong các bản đồ thế giới thì xứ Đàng
Trong thường được ghi là Cauchinchine hay Cauchine hay tương tự, ấy
chỉ là vì do ghi sai hoặc vì tác giả làm bản đồ muốn cho người ta biết xứ
này như là cửa vào và là khởi đầu của Trung Quốc.
Xứ này, về hướng Nam, giáp vĩ tuyến 11 [4], về hướng Bắc, xế về
Đông Bắc, giáp xứ Đàng Ngoài, về hướng Đông, có biển Đông và về
hướng Tây, xế về Tây Bắc, giáp nước Lào.
Còn về diện tích thì tôi chỉ nói về Đàng Trong vốn là một phần của
đại vương quốc Đàng Ngoài, trước kia thuộc về ông cố của chúa đương
thời [5] cai trị Đàng Trong, người đã chống lại chính vua nước Đàng
Ngoài. Cho tới nay người Bồ chỉ buôn bán với xứ này và các cha Dòng
chúng tôi cũng chỉ hoạt động ở xứ này để thiết lập đạo Kitô.
Xứ Đàng Trong trải dài hơn một trăm dặm theo bờ biển, ở vĩ tuyến
11, cho tới khoảng vĩ tuyến 17 [6], chỗ bắt đầu quốc gia của chúa Đàng
Ngoài. Bề rộng không lớn lắm, chỉ chừng hai mươi dặm Ý, đất bằng,
một bên là biển và một bên là dãy núi chạy dài có Kẻ Mọi ở [7], tên gọi
này có nghĩa là man di. Mặc dầu họ là người Đàng Trong, nhưng họ
không nhìn nhận chúa cũng không thần phục ngài. Họ đóng đô và chiếm
giữ miền núi rất hiểm trở.
Xứ Đàng Trong chia thành năm tỉnh. Tỉnh thứ nhất là nơi chúa ở
ngay sát xứ Đàng Ngoài gọi là Thuận Hóa. Tỉnh thứ hai là Cacciam[8],
nơi hoàng tử làm trấn thủ. Tỉnh thứ ba là Quamguia [9]. Thứ tư là
https://thuviensach.vn
Quingnim [10], người Bồ đặt tên là Pulucambis và tỉnh thứ năm là Renran
[11].
Chú thích
[1] Chúng ta đang ở thời kỳ Nam Bắc phân tranh, chúa Trịnh ở Bắc
và chúa Nguyễn ở Nam.
[2] An Nam, miền Nam được bình định, chứ không phải miền Tây
như Borri nói. Lý Anh Tôn được nhà Tống tôn làm An Nam quốc vương.
Đó là năm Giáp Thân 1164.
[3] Có thể gốc là Giao Chỉ. Thực ra chữ Cocincina được nhận để
phân biệt với tỉnh Cochin ở An Độ.
[4] Về ngành hàng hải, người Bồ và người Tây rất thành thạo.
Người Hà Lan cũng đã giỏi về thuật đi biển và người ta đã bắt đầu vẽ
bản đồ thế giới với những vĩ tuyến, đường xích đạo. Vào thế kỷ 15, 16
trung tâm địa dư là ở Roma.
[5] Lúc ngày Nguyễn Phúc Nguyên (1613-1635) làm chúa ở Đàng
Trong tục gọi là chúa Sãi. Như vậy ông cố tức là Nguyễn Kim thân sinh
của Nguyễn Hoàng. Nguyễn Hoàng (1600-1613), tục gọi là chúa Tiên.
[6] Kỳ lạ thay, Hiệp định Genève đã coi vĩ tuyến 17 làm ranh giới
tạm thời giữa hai miền Nam-Bắc (1954).
[7] Dãy núi Trường Sơn. Chữ “Mọi” đối với ta vẫn còn nghĩa hèn
kém (ở đây chỉ dân tộc ít người)
[8] Quảng Nam
[9] Quảng Ngãi
[10] Quy Nhơn
[11] Theo bản đồ 1651: 1. Quảng Bình (Dinh Công); 2. Thuận Hóa
(Dinh Cả); 3. Quảng Nam (Dinh Chiêm); 4. Quảng Ngãi; 5. Quy Nhơn
(Nước Mặn, Nước Ngọt); 6. Phú Yên (Ranran, Dinh Phó An)
https://thuviensach.vn
CHƯƠNG 2: VỀ KHÍ HẬU VÀ ĐẶC TÍNH
LÃNH THỔ ĐÀNG TRONG
Như đã nói ở trên, xứ này ở vào giữa vĩ tuyến 11 và 17, do đó, nóng
chứ không lạnh. Tuy vậy xứ này lại không nóng như An Độ, mặc dầu
cũng vĩ tuyến như nhau và thuộc về miền nhiệt đới như nhau. Lý do sự
khác biệt này là ở An Độ không phân rõ bốn mùa. Mùa hạ kéo dài tới chín
tháng liên tục. Trong thời gian đó, không thấy có một chút mây trên trời,
ngày cũng như đêm, thành thử không khí luôn luôn bị thiêu đốt bởi ánh
nắng mặt trời. Ba tháng còn lại được kể là mùa đông, không phải vì
thiếu nóng, mà là vì mưa liên tục, thường là cả ngày lẫn đêm trong mùa
này. Nói theo kiểu bình thường thì mưa liên tục như thế hẳn phải làm
không khí mát dịu. Tuy nhiên, vì mưa vào tháng năm, tháng sáu, tháng bảy,
lúc mặt trời ở điểm cao nhất, ở tột đỉnh của An Độ và lại không hề có
ngọn gió nào khác ngoài những ngọn gió thật nóng, nên không khí rất
ngột ngạt, làm cho nhiệt độ khó chịu hơn là vào chính giữa mùa hạ vì lúc
này thường có gió nhẹ thổi từ biển vào đem khí mát cho nội địa. Nếu
không có sự an bài đặc biệt, thì không sao ở được trong những xứ sở này.
Ở Đàng Trong thì không thế bởi vì có đủ bốn mùa trong năm, tuy
không rõ ràng như ở Châu Au vốn có khí hậu ôn hòa hơn. Mùa hạ gồm ba
tháng sáu, bảy, và tám, cũng rất nóng vì ở vào miền nhiệt đới và mặt trời
trong những tháng đó cũng ở điểm cao nhất trên đầu chúng ta. Nhưng vào
tháng chín, mười và mười một thuộc mùa thu thì hết nóng và khí hậu dịu
bởi có mưa liên tục, nhất là ở miền núi Kẻ Mọi. Do đó nước lũ làm ngập
khắp xứ, đổ ra biển, như thể đất liền và biển chỉ còn là một. Cứ mười
lăm hôm lại xảy ra một trận lụt và mỗi lần kéo dài ba ngày. Ích lợi của
nước lũ là không những nó làm cho không khí mát mẻ, mà còn đem phù sa
làm cho đất phì nhiêu và dồi dào về mọi sự, nhất là về lúa là thức ăn tốt
nhất trời ban và là lương thực chung cho khắp xứ. Còn vào ba tháng mùa
đông – tháng chạp, tháng giêng và tháng hai thì có gió bắc thổi, đem mưa
đủ lạnh để phân biệt mùa đông với các mùa khác trong năm. Sau cùng vào
các tháng ba, tư và năm, hiện rõ các hiệu quả của một mùa xuân thú vị,
tất cả đều xanh tươi và nở hoa.
https://thuviensach.vn
Nhân tiện nói về lụt, tôi xin kể thêm ở chương này một vài sự kỳ
lạ người ta gặp thấy trong dịp này.
Trước hết mọi người ở đây đều mong nước lũ, không những để
được mát mẻ và dễ chịu, mà còn để cho đồng ruộng được mầu mỡ. Thế
nên khi thấy mùa nước tới, họ để lộ hẳn sự vui mừng và thích thú: họ
thăm hỏi nhau, chúc mừng nhau, ôm nhau hò hét vui vẻ và nhắc đi nhắc
lại “đã đến lụt, đã đến lụt” [1] có nghĩa là nước đã tới, nước đã tới rồi.
Nói tóm lại là không ai là không bày tỏ niềm vui, từ kẻ thế gia đến chúa
cũng vậy.
Nhưng thường thì nước lũ tới bất thần, không ai ngờ, ban chiều
chưa ai nghĩ tới, nhưng sáng ra nước đã kéo vào tư bề, và người ta bị
nhốt trong nhà, tình trạng này diễn ra khắp xứ. Do đọ họ thường mất hết
gia súc vì không kịp đưa chúng chạy lên núi hay những nơi cao hơn.
Vào trường hợp này, có một luật kì lạ ở xứ này là bò, dê, lợn và các
vật khác bị chết đuối thì không còn thuộc về chủ, nhưng đương nhiên
thuộc về người thứ nhất vớt được. Đây cũng là một điều làm cho người
ta vui thích một cách lạ lùng: vừa có lụt, mọi người đều nhảy xuống
thuyền bơi đi tìm vớt gia súc chết đuối, để rồi làm thịt và dọn cỗ linh
đình.
Còn trẻ con thì tuỳ theo tuổi, chúng để mắt và vui thú rình trên cánh
đồng lúa mênh mông đầy rẫy chuột lớn, chuột bé, vì hang ngập nước nên
chúng phải ngoi ra, bò lên cây để thoát, thành thử thật là rất vui mắt khi
được nhìn thấy những cảnh cây nặng trĩu những chuột thay vì lá hay quả.
Từng đám trẻ con trên các chiếc thuyền nhỏ của chúng tới rung cây làm
các con vật này rớt xuống nước và chết đuối. Trò đùa nghịch và giải trí
của trẻ con, nhưng thực ra có ích lợi lớn cho đồng ruộng vì thoát được
những con vật gây thiệt hại nặng cho những cánh đồng rộng lớn.
Cái lợi cuối cùng, không phải là nhỏ, đó là người ta đều có thể sắm
sửa cho đủ mọi thứ cần dùng. Vì trong ba ngày này, nước lụt làm cho
người ta có thể đi lại khắp nơi bằng thuyền một cách rất dễ dàng đến
độ không có gì mà không chuyển được từ nơi này qua nơi khác. Do đó,
người ta dành thời gian này để họp chợ, những phiên chợ có tiếng nhất
trong xứ, số người đến họp chợ trong dịp này đông hơn bất kỳ buổi họp
chợ nào khác trong năm. Cũng trong ba ngày này, người ta đi lấy cây để
thổi nấu và dựng nhà. Họ chất cây từ trên núi vào thuyền và dễ dàng bơi
qua các nẻo, các ngõ và tới tận nhà vốn được cất trên các hàng cột khá
https://thuviensach.vn
cao để cho nước ra vào tự do. Ai cũng leo lên sàn cao nhất và phải khen
họ vì không bao giờ lụt bén tới bởi họ đã lấy kích thước chính xác, do
kinh nghiệm lâu năm, của mực nước cao thấp, do đó họ không sợ vì họ
biết chắc là nước luôn ở phía dưới nhà họ.
Chú thích
[1] Buzomi tới Đàng Trong năm 1615, de Pina tới năm 1617 và Borri
với Marquez tới năm 1618. Cha De Pina rất thông thạo tiếng Việt và là
thầy dạy De Rhodes sau này
https://thuviensach.vn
CHƯƠNG 3: ĐẤT ĐAI PHÌ NHIÊU
Người ta dễ dàng nhận thấy là nước lụt đã làm cho đất đai ở xứ
Đàng Trong phì nhiêu, như chúng tôi vừa nói. Tuy nhiên, tôi thấy còn phải
kể nhiều sự đặc biệt khác nữa.
Nước lụt làm cho đất mầu mỡ và phì nhiêu nên mỗi năm có ba vụ
lúa [1], đầy đủ và dồi dào đến nỗi không ai phải lam lũ vất vả để sinh
sống, ai cũng sung túc.
Quanh năm có rất nhiều và có đủ thứ trái cây như ở An Độ, vì xứ
Đàng Trong có cùng khí hậu như ở An. Nhưng đặc biệt là cam ở Đàng
Trong trái lớn hơn ở Châu Au to và rất ngọt. Vỏ rất dể bóc, mềm và
ngon, cam có thể ăn được cả vỏ lẫn ruột và có mùi vị thơm như trái
chanh [2] ở Ý. Ở đây người ta cũng thấy một số trái khác người Bồ gọi
là chuối, người khác gọi là vả An Độ. Theo ý tôi thì không xác đáng vì ở
An không có cây nào được gọi là vả, và cây ở Đàng Trong không có gì
giống cây vả của chúng ta, về thân cây cũng như về trái. Về thân cây thì
nó giống như cây chúng ta gọi là “lúa mì Thổ Nhĩ Kỳ” tuy cao lớn hơn, là
rất dài và rất to bản, đến độ chỉ cần hai lá cũng đủ để có thể che một
người từ chân đến đỉnh đầu và bao quanh cả người. Do đó mà có người
muốn gọi cây này là “cây vườn địa đàng” và Ađam đã lấy lá của nó để
che giấu sự trần truồng của mình [3]. Cây này trổ ngay trên ngọn một
buồng gồm hai mươi, ba mươi hay bốn mươi trái cột chặt với nhau, mỗi
trái về hình thù, bề dài và độ lớn, đều giống trái chanh thông thường ở Ý.
Khi trái chưa hoàn toàn chín thì vỏ xanh và sau đó trở nên vàng giống hệt
như chanh. Không cần dùng dao để bổ hay gọt vỏ, người ta lột vỏ rất dễ
dàng như bóc đâu mới hái. Mùi thì rất thơm, ruột vàng và khá cứng chắc
như một trái lê bergam chín muồi của ta, dễ tan trong miệng. Do đó
không thể nói là nó giống cây vả của chúng ta được, trừ vị thơm ngon và
dịu ngọt. Cũng còn một thứ trái khác thuộc loại này, người ta sấy và
ngâm rượu [4]. Hàng năm, sau khi cây có trái, sẽ héo đi và một nhánh con
trổ ở gốc để cho năm sau. Ở Ý chúng ta gọi là cây vả An Độ, nhưng thực
ra không có gì giống về cây cũng như về trái chuối này. Bây giờ chúng tôi
nói tới cây (chúng ta gọi là cây vả An Độ, nhưng không phải là cây người
ta thấy ở những miền này).
https://thuviensach.vn
Trái này có rất nhiều ở hầu hết các tỉnh An Độ, nhưng ở Đàng
Trong còn một thứ không thấy ở Trung Quốc cũng như ở khắp An Độ.
Trái nó to, như trái chanh lớn nhất ở Ý và to đến nỗi chỉ căn một trái cũng
đủ no. Ruột thì trắng và có rất nhiều hạt nhỏ đen và tròn, người ta nhai
lẫn với ruột. Các hạt này có vị thơm ngon và rất tốt cho dạ dày.
Ở Đàng Trong cũng còn một loại trái cây nữa, tôi không thấy có ở
An Độ, người ta gọi là cam [5]. Về hình thù và chất vỏ, nó giống như lựu
của ta, nhưng ruột bên trong hơi lỏng phải dùng thìa để múc và có vị
thơm và có màu gần giống trái sơn trà chín.
Họ cũng có thứ giống như trái anh đào của ta, nhưng mùi vị thì lại
như trái nho theo tiếng họ gọi là gnoo.
Họ không thiếu dưa, nhưng không ngon bằng dưa của ta, nên phải
ăn với đường hay mật. Dưa gang hay dưa nước, như nhiều người gọi,
rất to và rất tuyệt.
Có một trái gọi là mít. Trái này cũng có ở An Độ, nhưng không
ngon bằng trái ở Đàng Trong. Trái mọc ở trên một cây cao như cây hồ đào
và cây dẻ của ta, nhưng gai thì dài hơn nhiều. Trái to như trái bí ngô lớn ở
Ý và chỉ cần một trái cũng đủ cho một người vác. Bề ngoài nó có hình
thù của một nón thông, nhưng ruột thì dịu và mềm. Bên trong thì đầy
những múi vàng có hột dẹp và tròn như đồng tiền ở Ý hay đồng “teston”
(ở Pháp). Ở giữa mỗi múi có hạt [6] người ta bỏ đi không ăn. Có hai
loại[7], một loại người Bồ gọi là “giaca barca”, dóc hột, ruột cứng. Loại
thứ hai không dóc hột và ruột không cứng bằng, rất mềm và nát như keo.
Mùi vị của cả hai loại này rất ngon gọi là sầu riêng chúng tôi sẽ nói sau
đây.
Trái “durion” (sầu riêng) là một trong những trái ngon nhất hoàn
cầu, không thấy có ở đâu trừ ở Malacca, Bornéô và mấy đảo xung quanh.
Không có gì để nói giữa cây này và cây mít. Bên ngoài, trái này cũng
giống trái mít và trái thông của ta, cả về kích thước cũng như độ cứng
của vỏ. Còn thịt thì bám vào hột như keo, rất trắng, còn mùi vị thì giống
như món đông hạnh nhân của người Ý [8]. Thịt và nước ngọt của nó
được chứa trong mười hay mười hai ngăn nhỏ, mỗi ngăn có nhiều múi
thịt trắng bọc quanh hột, to bằng hạt dẻ lớn nhất của ta. Khi mở ra thì
xông mùi khó chịu như mùi hành thối, nhưng ở trong thì không có mùi và
lại rất thơm ngon. Tôi kể ở đây một câu chuyện xảy ra trước mắt tôi. Số
là có một người muốn cho một giáo sĩ cao cấp mới tới Malacca thưởng
https://thuviensach.vn
thức trái này và không báo trước. Ông mở một trái ngay trước mặt vị giáo
chủ. Mùi khá nặng và khó chịu xông ra làm cho giáo chủ ghê sợ và nản
không dùng được. Nhưng lúc ngồi vào bàn tiệc, trong các món ăn có một
món chỉ toàn là trái cây có mùi vị thơm giống món đông hạnh nhân làm
cho giáo chủ dễ lầm cũng như bất cứ ai chưa được biết trước. Ông vừa
đưa tay lấy một miếng thứ nhất và nếm thì thấy rất ngon làm ông bỡ
ngỡ và hỏi xem người đầu bếp nào khéo dọn món đông hạnh nhân ngon
đến thế. Chủ nhà mỉm cười trả lời là chẳng có hỏa đầu quân nào ngoài
Thiên Chúa cao cả đã cho xứ này một trái hiếm gọi là sầu riêng mà lúc
đầu ông đã ghê sợ. Nghe tới đây vị giáo chủ sửng sốt và hết lời ca ngợi,
ông dùng rất ngon miệng. Thế nhưng trái này ngon đến độ ngay ở
Malacca là nơi sản sinh, nhiều khi giá lên tới một đồng “êcu” một trái.
Xứ Đàng Trong còn có một loại trái khác người Bồ gọi là dứa. Và
tôi biết trái này cũng rất thông thường ở khắp An Độ và ở Brésil. Tuy
nhiên, vì tôi thấy người ta tả không đúng theo ý tôi lắm, nên tôi nghĩ là
phải nói một chút. Trái này không trổ trên cây, cũng không do hạt giống,
nhưng do rễ như thể cây atisô của ta. Thân và lá hoàn toàn giống như cây
các đông và atisô của ta. Trái hình tròn dài bằng chín ngón tay [9] và to
như thể lấy hai vốc tay ôm vừa. Ruột ở trong thì dày như ruột cải củ,
nhưng vỏ thì cứng hơn và sờm như vây cá. Khi chín bên trong vàng và sau
khi lấy dao gọt vỏ thì ăn sống. Trái có vị chua dịu và khi chín thì thơm
ngon như trái lê “bergam”.
Ở xứ Đàng Trong còn một trái khác đặc biệt của xứ này người Bồ
gọi là “aerca” (cau). Cây nó mọc thẳng như cây dừa, rỗng ở trong và chỉ
đâm lá ở chóp đỉnh, lá tựa như lá dừa: ở giữa các tàu lá, nảy các ngành
nhỏ có trái. Trái có hình thù và kích thước của trái hồ đào [10], sắc xanh
cũng như vỏ hồ đào, còn ruột thì trắng và cứng như trái dẻ [11] chẳng có
mùi vị gì hết. Trái này không ăn một mình, nhưng ăn với lá trầu không,
thứ cây rất thông dụng ở khắp An Độ, lá như lá thường xuân [12] ở Châu
Au và thân bám vào cây chống như giống cây thường xuân. Người ta hái
lá cắt thành từng miếng nhỏ và trong mỗi miếng để một miếng cau, như
vậy mỗi trái có thể làm thành bốn hay năm miếng. Người ta còn thêm vôi
với cau. Vôi ở xứ này không làm bằng đá như ở Châu Au, nhưng bằng vỏ
sò hến [13]. Vì trong nhà thường có những người chuyên lo việc bếp núc,
chợ búa và các việc khác, nên ở Đàng Trong mỗi nhà đều có một người
không có việc gì khác hơn là việc têm trầu, những người dùng vào việc
https://thuviensach.vn
này thường là đàn bà, nên gọi là các bà têm trầu. Những miếng trầu đã
têm sẵn thì để vào trong hộp và suốt ngày người ta nhai trầu, không
những khi ở trong nhà mà cả khi đi lại trong phố chợ, cả lúc nói, ở mọi
nơi, mọi lúc. Và sau khi đã nhai trầu lâu và nghiền trong miệng người ta
không nuốt mà nhả ra, chỉ giữ hương vị và phẩm chất tăng thêm sức
mạnh cho dạ dày một cách kỳ lạ. Trái này được têm thành miếng rất
thông dụng đến nỗi khi tới thăm ai, người ta đem theo một túi đầy trầu và
mời người mình tới thăm, người chủ nhà lấy một miếng cho ngay vào
miệng. Trước khi người khách từ biệt ra về, chủ nhà sai người têm trầu
của nhà mình đem ra một túi để mời người khách đến thăm mình, như để
đáp lại sự lịch thiệp mình đã nhận được. Do đó vì cần phải có sẵn coi
trầu cau và có liên tục, nên cau cũng là một nguồn lợi lớn ở xứ này, có
vườn cau thì cũng như ở xứ chúng ta có ruộng nho và ruộng ôliu. Họ
cũng hút thuốc lá, nhưng thuốc lá không thông dụng bằng trầu cau. Cũng
có đầy đủ các loại mướp và có cả mía nữa. Các trái cây ở Châu Au thì
cho tới nay chưa được đưa tới xứ Đàng Trong. Tôi tin rằng nho và vả sẽ
mọc được ở đây, những thứ rau như rau diếp, rau diếp xoắn, sú và những
thứ rau tương tự hiện có ở Đàng Trong như ở khắp An Độ, nhưng chúng
chỉ ra lá mà không có hạt và nếu muốn gieo thì phải đem hạt từ Châu Au
qua.
Thịt thà thì rất nhiều ở đây vì có vô số súc vật bốn chân nuôi trong
nhà như bò, dê, lợn, trâu và các giống tương tự, và thú rừng như hươu nai
to lớn hơn ở Châu Au, lợn rừng và mấy loại khác. Gia cầm như gà nhà và
gà rừng rất nhiều ở thôn quê, chim gáy, chim bồ câu, vịt, ngỗng, sếu, thịt
thơm ngon và sau cùng là mấy thứ khác ở Châu Au không có.
Ngành ngư nghiệp cũng rất thịnh vượng và cá ở đây có hương vị
tuyệt diệu và rất đặc biệt, tôi đã qua nhiều đại dương, đã đi nhiều nước,
nhưng tôi cho rằng không nơi nào có thể so sánh được với xứ Đàng
Trong. Và như tôi đã viết, xứ này chạy dọc bờ biển, nên có rất nhiều
thuyền đánh cá và rất nhiều thuyền tải cá đi khắp xứ, từng đoàn người
chuyển cá từ biển tới tận miền núi, có thể nói trong một ngày hai mươi
bốn tiếng đồng hồ thì ít ra họ dùng tới hai mươi tiếng để làm việc này.
Thực ra người Đàng Trong ăn cá nhiều hơn ăn thịt. Họ chuyên chú đánh
cá chủ yếu là vì họ rất ham thứ nước “sốt” [14] gọi là balaciam [15] làm
bằng cá ướp muối cho mềm và làm nhão ra trong nước. Đây là một thứ
nước cốt cay cay tựa như mù tạt (moutarde) của ta, nhà nào cũng dự trữ
https://thuviensach.vn
một lượng lớn đựng đầy trong chum, vại như tại nhiều nơi ở Châu Au,
người ta dự trữ rượu. Thứ nước cá này dùng một mình thì không nuốt
được nhưng được dùng để gợi nên hương vị và kích thích tì vị để ăn cơm
vốn nhạt nhẽo và không có mùi vị nếu không có thứ nước đó. Vì cơm là
thức ăn chung và thông thường của xứ Đàng Trong, nên cần phải có rất
nhiều balaciam (nếu không thì không có mùi vị) và do đó phải có một
lượng lớn nước mắm và cũng do đó phải liên tục đánh cá. Cũng không ít
sò, hến và các hải sản khác, nhất là một thứ họ gọi là cameron [16].
Nhưng ngoài tất cả những gì đã nói, Thiên Chúa quan phòng còn
dành cho họ một thức ăn hiếm và ngon, theo thiển ý tôi, chỉ có thể so
sánh được với manna [17] Thiên Chúa dùng để nuôi dân riêng của Người
trong sa mạc và thức ăn này rất đặc biệt chỉ có ở xứ Đàng Trong chứ
không đâu có. Những điều tôi sẽ nói thì không phải bởi tôi đã nghe hay
theo người khác kể lại, nhưng chính tôi có kinh nghiệm, tôi đã thấy và
thường được ăn. Ở xứ này có một thứ chim be bé giống như chim én, nó
làm tổ [18] ở các cồn đá và hốc đá sóng biển vỗ vào. Con vật nhỏ này
dùng mỏ lấy bọt biển và với chất toát ra từ dạ dày, trộn cả hai thứ lại
làm thành một thứ tôi không biết là bùn hay nhựa để làm tổ. Tổ này khi
đã khô cứng thì trong suốt và có sắc vừa vàng vừa xanh. Dân xứ này nhặt
những tổ đó về ngâm trong nước cho mềm và tan rã, rồi dùng làm đồ gia
vị trộn với thịt, các thứ thịt, cá, rau, hoặc thứ nào khác làm cho các món ăn
có một hương vị khác nhau tuỳ món như thể đã sẵn cho hồ tiêu, quế, đinh
hương hay các thứ gia vị khác, như vậy chỉ một tổ yến mà có thể làm gia
vị cho hết các thứ thịt, không cần thêm muối, dầu, mỡ hay thứ gì tương
tự. Vì thế tôi nói, nó giống như manna, có hương vị của hầu hết các món
thơm ngon nhất, chỉ khác, một đàng là do công trình của một con chim bé
nhỏ và một đàng là do tay các thiên thần của Thượng Đế nhào nặn. Thứ
này nhiều đến nỗi chính tôi đã thấy người ta chất đầy mười chiếc
thuyền nhỏ những tổ yến nhặt ở dọc các hốc núi đá, trong khoảng chưa
đầy nửa dặm. Và đây là món rất ngon, nên chỉ có chúa độc quyền sử
dụng, người ta dành tất cả cho ngài và ngài đem một số lớn cống vua Tàu
là người rất chuộng.
Dân ở đây không dùng sữa, họ cho là trọng tội nếu vắt sữa bò, họ
sợ nếu làm việc đó là mang tội, vì theo thiên nhiên thì sữa dành để nó
nuôi con. Như thể bò nuôi con mà không được sử dụng thứ lương thực
dành riêng cho con.
https://thuviensach.vn
Họ còn ăn mấy thứ chúng ta rất sợ và chúng ta coi như độc, thí dụ
con tắc kè, con vật này nhỉnh hơn những con đã phơi khô nhập cảng từ
ngoại quốc và thường đem về Ý. Tôi đã thấy người bạn tôi mua mấy
con, buộc lại thành bó và đem nướng trên than hồng. Giây buộc đứt và
chúng bò lê thê theo kiểu của chúng trên than hồng cho tới lúc thấy sức
nóng thì chúng chống đỡ một chút vì lúc này rất lạnh, nhưng cuối cùng
chúng bị thiêu và nướng chín. Thế là ông bạn tôi lôi ra, lấy dao lóc lớp da
đã cháy, thịt nó rất trắng, ông bạn tôi nghiền thịt ra và trộn với một thứ
“nước sốt” đem đun chín rồi bỏ bơ vào ăn như một thứ thịt rất thơm
ngon. Ông mời tôi, nhưng tôi không dùng, chỉ nhìn theo mà thôi.
Còn về tất cả những gì thuộc đời sống hằng ngày, xứ Đàng Trong
cũng rất đầy đủ. Thứ nhất là áo mặc, họ có rất nhiều tơ lụa đến nỗi dân
lao động và người nghèo cũng dùng hàng ngày. Vì thế đã hơn một lần tôi
rất thích thú khi thấy đàn ông, đàn bà khuân vác đá, đất, vôi và những vật
liệu tương tự mà không hề cẩn thận giữ cho áo đạp và quý họ mặc khỏi
rách hay bẩn. Điều này không có gì lạ, nếu biết rằng có những cây dâu
cao lớn người ta hái lá để nuôi tằm được trồng trong những thửa ruộng
rộng lớn như cây gai ở bên ta, và mọc lên rất chóng. Thế nên chỉ trong
một ít tháng là tằm được đưa ra nuôi ngoài khí trời và đồng thời nhả tơ,
làm thành những cái kén nhỏ với số lượng rất nhiều và dư thừa đến nỗi
người Đàng Trong đủ dùng riêng cho mình mà còn bán cho Nhật Bản và
gửi sang nước Lào để rồi đưa sang Tây Tạng [19]. Thứ lụa này tuy không
thanh và mịn nhưng bền và chắc hơn lụa Tàu.
Nhà cửa và đền đài, mặc dầu chỉ bằng gỗ, nhưng không thua kém
bất cứ nước nào, bởi vì không nói quá chút nào, gỗ ở xứ này là gỗ quý
nhất hoàn cầu, theo nhận xét của những người ở các nơi đó. Trong vô số
cây và vô số loại cây ở đây, có hai thứ thường được dùng để làm nhà cửa
và là thứ không bao giờ hư mặc dầu bị ngâm trong nước hay vùi trong
bùn, và rất chắc, rất nặng đến nỗi không bao giờ nổi trên mặt nước và
dùng làm neo tàu. Một thứ là gỗ đen, nhưng không phải đen như mun,
loại thứ hai có mầu đỏ hung. Cả hai sau khi được lóc vỏ thì nhẵn và trơn
không cần phải bào. Các cây đó gọi là Tin [20] và rất có thể người đó
không lầm khi nói rằng thứ gỗ không bao giờ hư đó là gỗ chính vua
Salomon đã dùng để dựng Đền thánh và chúng ta được biết qua Kinh
Thánh rằng thứ cây này được gọi bằng một cái tên rất gần với tên này,
ligna thying [21]. Núi xứ Đàng Trong mọc đầy loại cây này, thẳng tắp và
https://thuviensach.vn
cao ngất nghểu, như thể ngọn chạm tới mây và lớn bằng hai người ôm.
Người Đàng Trong dùng gỗ này để dựng nhà và ai nấy đều có thể lên núi
chặt tuỳ thích. Tất cả kiến trúc nhà đều dựa vào hàng cột cao, chắc và
đóng rất sâu, rồi lắp ván, nhưng người ta có thể tháo gỡ ra và thay thế
bằng phên liếp, bằng tre, sậy đan rất tài tình để thông khí trong mùa nóng
bức và một phần nào cho nước và thuyền qua lại tự do vào mùa lụt lội
như chúng tôi đã nói ở trên. Họ cũng làm rất nhiều hoa lá nhỏ xinh và
nhiều hình hài khéo léo để tô điểm trang trí nhà của họ, họ chạm trổ và
đẽo gọt gỗ ván rất công phu.
Vì chúng tôi đang nói về cây cối và trước khi qua đề tài khác, tôi
xin thêm ít điều về một loại gỗ vốn là món hàng quý nhất có thể xuất từ
xứ Đàng Trong ra các nước ngoài. Đó là thứ gỗ nổi tiếng gọi là aquila và
calamba [22]; cùng loại gỗ nhưng khác về tác dụng và sự quý chuộng
người ta dành cho chúng.
Loại cây này có rất nhiều, nhất là trên núi Kẻ Mọi, cây rất to và rất
cao. Nếu gỗ cắt ở thân cây non thì là trầm hương, có rất nhiều và ai
muốn lấy bao nhiêu tuỳ thích. Nhưng khi lấy ở gốc già thì đó là kỳ nam
rất khó hiếm, vì hình như thiên nhiên cho những cây đó mọc lên ở những
ngọn núi cao nhất và hiểm trở nhất để được thảnh thơi già cỗi đi, không
ai làm hại được mình. Thỉnh thoảng có ít cành gẫy và rời khỏi thân rơi
xuống, hoặc vì khô quá hoặc vì già cỗi quá khi người ta nhặt được thì đã
mục nát và mốc thếch. Nhưng đó lại là thứ có giá nhất và lừng danh nhất
gọi là kỳ nam vượt hẳn thứ trầm hương thông thường rất nhiều về tác
dụng và về hương thơm. Trầm hương thì ai cũng có thể bán tuỳ thích
nhưng chúa giữ độc quyền mua bán kỳ nam vì hương thơm và tác dụng
đặc biệt của nó. Thực ra ở chính nơi nhặt được, nó rất thơm, rất dịu, tôi
đã muốn thử mấy miếng người ta cho tôi, tôi đem chôn dưới đất sâu
chừng hơn năm chân [23] thế mà vẫn ngửi thấy hương thơm. Kỳ nam
nhặt tại chỗ thì giá năm đồng đuca [24] một líu, nhưng ở hải cảng xứ
Đàng Trong, nơi buôn bán thì đắt hơn, nghĩa là hai trăm đuca một líu. Nếu
tìm được một tấm lớn có thể làm gối để gối đầu, còn hay làm gối dài
[25] thì người Nhật mua tới ba trăm hay bốn trăm đuca một líu. Là vì
người ta nghiệm thấy, vì sức khỏe thì nên dùng làm gối một thứ gì cứng
hơn là thứ gối làm bằng lông vừa không lành vừa hay sinh bệnh. Thường
thì họ dùng một phiến gỗ, và tuỳ theo khả năng, người ta mong có được
thứ gỗ quý nhất có thể sắm được [26]. Trầm hương thì ít được trọng
https://thuviensach.vn
hơn và giá cũng rẻ hơn kỳ nam, nhưng chỉ một tàu chở đầy trầm hương
cũng đủ cho thương gia trở nên giàu có và sung túc suốt đời. Thế nên
phần thưởng lớn nhất chúa ban cho thuyền trưởng Malacca, đó là cho
phép ông buôn trầm hương. Bởi vì người Bàlamôn và người Banian [27]
ở An Độ có tục hỏa thiêu xác người chết bằng gỗ rất thơm, nên họ cần
có ngay một số lượng lớn.
Sau cùng, xứ Đàng Trong có rất nhiều mỏ kim khí quý và nhất là
vàng. Và để hiểu biết thêm bằng vài lời những gì đáng được kể dài dòng
hơn nữa về sự giàu có của xứ này thì tôi kết thúc chương này bằng lời
của các thương gia Châu Au đã có dịp tới đây. Họ quyết rằng xứ Đàng
Trong có nhiều của cải hơn Trung Quốc mà chúng tôi biết là rất dồi dào
về mọi thứ.
Phải nói thêm ở đây chút ít về các thú vật chúng tôi đã nói là có rất
nhiều ở Đàng Trong, nhưng để khỏi nói nhiều, tôi chỉ xin nói về voi và tê
giác, nhất là ở xứ này và nhiều chuyện kỳ lạ chưa bao giờ nghe thấy.
Chú thích
[1] Ba vụ lúa: chúng tôi chưa biết rõ việc này.
[2] Chanh ở Ý lớn hơn chanh của ta, màu vàng chứ không xanh như
ta.
[3] Theo Kinh Thánh, sau khi phạm tội ăn trái cấm, tổ tiên thấy
mình trần truồng và phải lấy lá che thân.
[4] Có thể là một thứ chuối “ngự” thơm và nhỏ, hay một thứ trái
cây nào khác.
[5] Trái nói ở trên có thể là trái ổi còn trái “cam” này có thể là trái
thanh long.
[6] Có thể cho trái mít cũng thuộc về loại “sầu riêng”
[7] Mít mật và mít dai
[8] Món hạnh nhân tán nhỏ hòa với đường, rồi để vào tủ lạnh, món
ăn rất sang của người Châu Au vào thời này.
[9] “Pouce” cách đo thời xưa cũng như kiểu đo gang tay hay sải.
[10] Tiếng Pháp: noix
[11]Tiếng Pháp: châtaignes
[12] Tiếng Pháp: lierre, thứ như nho dại, lá xanh và leo trên tường
[13] Thứ vôi này có màu hồng
[14] Nước sốt (sauce), một thứ nước dùng riêng đằng đặc gồm
nước thịt và mỡ béo để tưới vào các thức ăn khô và nhạt.
https://thuviensach.vn
[15] Nước mắm rất danh tiếng của ta
[16] Chúng tôi chưa rõ đây là thứ gì
[17] Thức ăn từ trời rơi xuống, có mùi vị theo sở thích người dùng.
[18] Chim yến, tổ yến. “Người ta cho rằng, ban ngày chim yến đi
kiếm ăn, nuốt cả con trong biển, rồi đêm đến nhả nước dãi thành những
vành tròn hình xoáy ốc để xây tổ (Đỗ Tất Lợi: Những cây thuốc và vị
thuốc ở Việt Nam, Hà Nội 1981, tr.945)
[19] Vào thế kỷ 15, 16, 17 người Châu Au qua phương Đông nhất
là Trung Quốc để buôn hồ tiêu và tơ lụa, vì thế có con đường gọi là con
đường tơ lụa (route de la soie)
[20] Gỗ lim
[21] Chúng tôi chưa nghiên cứu xem danh từ này có nghĩa thế nào.
Nếu là lim thì theo Đỗ Tất Lợi, sách dẫn, là những thứ cây mọc phổ biến
của nước ta, nhất là tại những khu rừng miền Bắc và miền Trung. Còn
thấy ở Lào, miền Nam Trung Quốc. Thường người ta khai thác gỗ làm
nhà, làm đồ dùng. Có thể cao hơn mười thước hoặc hơn nữa (tr.361)
[22] Trầm hương: kỳ nam là loại trầm hương quý nhất, xem: Đỗ
Tất Lợi, sd tr.449-450.
[23] Pied: chân, cách đo thời xưa, chừng 0.3407m
[24] Đồng tiền này thường đúc bằng vàng vào thế kỷ 13 tại Venise
(Ý) lúc đó là một cộng hòa độc lập và rất thịnh vượng. Líu: livre, tức nửa
cân.
[25] Gối dài là thứ gối theo suốt bề ngang của chiếc giường lớn.
[26] Ở xứ nóng thường dùng gối mây hoặc gỗ, khác hẳn các xứ
lạnh.
[27] Không rõ thuộc tôn giáo nào, còn đạo Bàlamôn là đạo chính
yếu của An Độ.
https://thuviensach.vn
CHƯƠNG 4: VOI VÀ TÊ GIÁC
Rừng xứ Đàng Trong có rất nhiều voi, nhưng người ta không sử
dụng được vì chưa biết cách bắt và luyện chúng. Vì thế phải đưa những
con voi đã thuần phục và dạy dỗ từ nước láng giềng Campuchia. Voi ở
đây lớn gấp hai voi ở An Độ. Chân và vết chân nó để lại đường kính đo
được chừng nửa mét. Răng thò ra từ miệng gọi là ngà voi thì dài tới 4.7m,
đó là voi đực. Ngà của voi cái thì ngắn hơn nhiều. Vì thế người ta dễ
nhận thấy voi ở xứ Đàng Trong to lớn hơn voi người ta vẫn dẫn đi diễu
ở Châu Au tới mức nào: ngà của các con voi này chưa được 8 tấc.
Voi sống lâu năm. Một lần tôi hỏi tuổi một con voi tôi gặp thì
người quản tượng đạp là đã sáu mươi tuổi ở Campuchia và bốn mươi ở
Đàng Trong. Vì tôi đã di chuyển nhiều lần trên lưng voi ở xứ Đàng Trong
nên tôi có thể kể lại mấy câu chuyện kỳ lạ, nhưng có thật. Voi thường
chở tới mười ba hay mười bốn người, theo cách thức sau đây. Cũng như
chúng ta thắng yên trên lưng ngựa, người ta cũng đặt trên lưng voi một
bành lớn như cỗ kiệu trong đó có bốn chỗ ngồi và người ta buộc bằng
chão sắt luồn dưới bụng voi như yên và đai ngựa. Bành có cửa mở hai
bên và có thể chứa được sáu người, ngồi làm hai hàng, mỗi hàng ba
người, một người ngồi ở đằng sau với hai người nữa, và cuối cùng là...
Thông tin ebook
Xứ Đàng Trong Năm 1621 - Cristoforo Borri
Dịch giả: Nguyễn Khắc Xuyên
Thể loại: History
Tạo và hiệu chỉnh ebook: Hoàng Nghĩa Hạnh
Diễn đàn Tinh Tế
Dự án ebook định dạng epub chuẩn cho mọi thiết bị di động
http://dl.dropbox.com/u/46534480/library/_catalog/
OPDS catalog:
http://dl.dropbox.com/u/46534480/library/_catalog/index.xml
https://thuviensach.vn
CHƯƠNG 1: VỀ QUỐC HIỆU, VỊ TRÍ VÀ DIỆN
TÍCH
Xứ Đàng Trong [1] được người Bồ gọi như vậy nhưng trong tiếng
bản xứ là Annam [2] có nghĩa là miền Tây. Đối với nước Tàu, xứ này
thực sự nằm ở phía Tây. Nhưng người Nhật gọi xứ này là Cochi [3],
trong tiếng bản xứ của họ, cũng có nghĩa là Annam trong tiếng Đàng
Trong. Nhưng người Bồ đã vào nước Annam để buôn bán, họ dùng tiếng
Nhật Coci và tiếng Tàu Cina mà làm thành tiếng thứ ba là Cocincina để
chỉ xứ này, chủ ý phân biệt Cocin cạnh Cina với tỉnh Cocin thuộc An Độ,
do người Bồ chiếm đóng. Còn trong các bản đồ thế giới thì xứ Đàng
Trong thường được ghi là Cauchinchine hay Cauchine hay tương tự, ấy
chỉ là vì do ghi sai hoặc vì tác giả làm bản đồ muốn cho người ta biết xứ
này như là cửa vào và là khởi đầu của Trung Quốc.
Xứ này, về hướng Nam, giáp vĩ tuyến 11 [4], về hướng Bắc, xế về
Đông Bắc, giáp xứ Đàng Ngoài, về hướng Đông, có biển Đông và về
hướng Tây, xế về Tây Bắc, giáp nước Lào.
Còn về diện tích thì tôi chỉ nói về Đàng Trong vốn là một phần của
đại vương quốc Đàng Ngoài, trước kia thuộc về ông cố của chúa đương
thời [5] cai trị Đàng Trong, người đã chống lại chính vua nước Đàng
Ngoài. Cho tới nay người Bồ chỉ buôn bán với xứ này và các cha Dòng
chúng tôi cũng chỉ hoạt động ở xứ này để thiết lập đạo Kitô.
Xứ Đàng Trong trải dài hơn một trăm dặm theo bờ biển, ở vĩ tuyến
11, cho tới khoảng vĩ tuyến 17 [6], chỗ bắt đầu quốc gia của chúa Đàng
Ngoài. Bề rộng không lớn lắm, chỉ chừng hai mươi dặm Ý, đất bằng,
một bên là biển và một bên là dãy núi chạy dài có Kẻ Mọi ở [7], tên gọi
này có nghĩa là man di. Mặc dầu họ là người Đàng Trong, nhưng họ
không nhìn nhận chúa cũng không thần phục ngài. Họ đóng đô và chiếm
giữ miền núi rất hiểm trở.
Xứ Đàng Trong chia thành năm tỉnh. Tỉnh thứ nhất là nơi chúa ở
ngay sát xứ Đàng Ngoài gọi là Thuận Hóa. Tỉnh thứ hai là Cacciam[8],
nơi hoàng tử làm trấn thủ. Tỉnh thứ ba là Quamguia [9]. Thứ tư là
https://thuviensach.vn
Quingnim [10], người Bồ đặt tên là Pulucambis và tỉnh thứ năm là Renran
[11].
Chú thích
[1] Chúng ta đang ở thời kỳ Nam Bắc phân tranh, chúa Trịnh ở Bắc
và chúa Nguyễn ở Nam.
[2] An Nam, miền Nam được bình định, chứ không phải miền Tây
như Borri nói. Lý Anh Tôn được nhà Tống tôn làm An Nam quốc vương.
Đó là năm Giáp Thân 1164.
[3] Có thể gốc là Giao Chỉ. Thực ra chữ Cocincina được nhận để
phân biệt với tỉnh Cochin ở An Độ.
[4] Về ngành hàng hải, người Bồ và người Tây rất thành thạo.
Người Hà Lan cũng đã giỏi về thuật đi biển và người ta đã bắt đầu vẽ
bản đồ thế giới với những vĩ tuyến, đường xích đạo. Vào thế kỷ 15, 16
trung tâm địa dư là ở Roma.
[5] Lúc ngày Nguyễn Phúc Nguyên (1613-1635) làm chúa ở Đàng
Trong tục gọi là chúa Sãi. Như vậy ông cố tức là Nguyễn Kim thân sinh
của Nguyễn Hoàng. Nguyễn Hoàng (1600-1613), tục gọi là chúa Tiên.
[6] Kỳ lạ thay, Hiệp định Genève đã coi vĩ tuyến 17 làm ranh giới
tạm thời giữa hai miền Nam-Bắc (1954).
[7] Dãy núi Trường Sơn. Chữ “Mọi” đối với ta vẫn còn nghĩa hèn
kém (ở đây chỉ dân tộc ít người)
[8] Quảng Nam
[9] Quảng Ngãi
[10] Quy Nhơn
[11] Theo bản đồ 1651: 1. Quảng Bình (Dinh Công); 2. Thuận Hóa
(Dinh Cả); 3. Quảng Nam (Dinh Chiêm); 4. Quảng Ngãi; 5. Quy Nhơn
(Nước Mặn, Nước Ngọt); 6. Phú Yên (Ranran, Dinh Phó An)
https://thuviensach.vn
CHƯƠNG 2: VỀ KHÍ HẬU VÀ ĐẶC TÍNH
LÃNH THỔ ĐÀNG TRONG
Như đã nói ở trên, xứ này ở vào giữa vĩ tuyến 11 và 17, do đó, nóng
chứ không lạnh. Tuy vậy xứ này lại không nóng như An Độ, mặc dầu
cũng vĩ tuyến như nhau và thuộc về miền nhiệt đới như nhau. Lý do sự
khác biệt này là ở An Độ không phân rõ bốn mùa. Mùa hạ kéo dài tới chín
tháng liên tục. Trong thời gian đó, không thấy có một chút mây trên trời,
ngày cũng như đêm, thành thử không khí luôn luôn bị thiêu đốt bởi ánh
nắng mặt trời. Ba tháng còn lại được kể là mùa đông, không phải vì
thiếu nóng, mà là vì mưa liên tục, thường là cả ngày lẫn đêm trong mùa
này. Nói theo kiểu bình thường thì mưa liên tục như thế hẳn phải làm
không khí mát dịu. Tuy nhiên, vì mưa vào tháng năm, tháng sáu, tháng bảy,
lúc mặt trời ở điểm cao nhất, ở tột đỉnh của An Độ và lại không hề có
ngọn gió nào khác ngoài những ngọn gió thật nóng, nên không khí rất
ngột ngạt, làm cho nhiệt độ khó chịu hơn là vào chính giữa mùa hạ vì lúc
này thường có gió nhẹ thổi từ biển vào đem khí mát cho nội địa. Nếu
không có sự an bài đặc biệt, thì không sao ở được trong những xứ sở này.
Ở Đàng Trong thì không thế bởi vì có đủ bốn mùa trong năm, tuy
không rõ ràng như ở Châu Au vốn có khí hậu ôn hòa hơn. Mùa hạ gồm ba
tháng sáu, bảy, và tám, cũng rất nóng vì ở vào miền nhiệt đới và mặt trời
trong những tháng đó cũng ở điểm cao nhất trên đầu chúng ta. Nhưng vào
tháng chín, mười và mười một thuộc mùa thu thì hết nóng và khí hậu dịu
bởi có mưa liên tục, nhất là ở miền núi Kẻ Mọi. Do đó nước lũ làm ngập
khắp xứ, đổ ra biển, như thể đất liền và biển chỉ còn là một. Cứ mười
lăm hôm lại xảy ra một trận lụt và mỗi lần kéo dài ba ngày. Ích lợi của
nước lũ là không những nó làm cho không khí mát mẻ, mà còn đem phù sa
làm cho đất phì nhiêu và dồi dào về mọi sự, nhất là về lúa là thức ăn tốt
nhất trời ban và là lương thực chung cho khắp xứ. Còn vào ba tháng mùa
đông – tháng chạp, tháng giêng và tháng hai thì có gió bắc thổi, đem mưa
đủ lạnh để phân biệt mùa đông với các mùa khác trong năm. Sau cùng vào
các tháng ba, tư và năm, hiện rõ các hiệu quả của một mùa xuân thú vị,
tất cả đều xanh tươi và nở hoa.
https://thuviensach.vn
Nhân tiện nói về lụt, tôi xin kể thêm ở chương này một vài sự kỳ
lạ người ta gặp thấy trong dịp này.
Trước hết mọi người ở đây đều mong nước lũ, không những để
được mát mẻ và dễ chịu, mà còn để cho đồng ruộng được mầu mỡ. Thế
nên khi thấy mùa nước tới, họ để lộ hẳn sự vui mừng và thích thú: họ
thăm hỏi nhau, chúc mừng nhau, ôm nhau hò hét vui vẻ và nhắc đi nhắc
lại “đã đến lụt, đã đến lụt” [1] có nghĩa là nước đã tới, nước đã tới rồi.
Nói tóm lại là không ai là không bày tỏ niềm vui, từ kẻ thế gia đến chúa
cũng vậy.
Nhưng thường thì nước lũ tới bất thần, không ai ngờ, ban chiều
chưa ai nghĩ tới, nhưng sáng ra nước đã kéo vào tư bề, và người ta bị
nhốt trong nhà, tình trạng này diễn ra khắp xứ. Do đọ họ thường mất hết
gia súc vì không kịp đưa chúng chạy lên núi hay những nơi cao hơn.
Vào trường hợp này, có một luật kì lạ ở xứ này là bò, dê, lợn và các
vật khác bị chết đuối thì không còn thuộc về chủ, nhưng đương nhiên
thuộc về người thứ nhất vớt được. Đây cũng là một điều làm cho người
ta vui thích một cách lạ lùng: vừa có lụt, mọi người đều nhảy xuống
thuyền bơi đi tìm vớt gia súc chết đuối, để rồi làm thịt và dọn cỗ linh
đình.
Còn trẻ con thì tuỳ theo tuổi, chúng để mắt và vui thú rình trên cánh
đồng lúa mênh mông đầy rẫy chuột lớn, chuột bé, vì hang ngập nước nên
chúng phải ngoi ra, bò lên cây để thoát, thành thử thật là rất vui mắt khi
được nhìn thấy những cảnh cây nặng trĩu những chuột thay vì lá hay quả.
Từng đám trẻ con trên các chiếc thuyền nhỏ của chúng tới rung cây làm
các con vật này rớt xuống nước và chết đuối. Trò đùa nghịch và giải trí
của trẻ con, nhưng thực ra có ích lợi lớn cho đồng ruộng vì thoát được
những con vật gây thiệt hại nặng cho những cánh đồng rộng lớn.
Cái lợi cuối cùng, không phải là nhỏ, đó là người ta đều có thể sắm
sửa cho đủ mọi thứ cần dùng. Vì trong ba ngày này, nước lụt làm cho
người ta có thể đi lại khắp nơi bằng thuyền một cách rất dễ dàng đến
độ không có gì mà không chuyển được từ nơi này qua nơi khác. Do đó,
người ta dành thời gian này để họp chợ, những phiên chợ có tiếng nhất
trong xứ, số người đến họp chợ trong dịp này đông hơn bất kỳ buổi họp
chợ nào khác trong năm. Cũng trong ba ngày này, người ta đi lấy cây để
thổi nấu và dựng nhà. Họ chất cây từ trên núi vào thuyền và dễ dàng bơi
qua các nẻo, các ngõ và tới tận nhà vốn được cất trên các hàng cột khá
https://thuviensach.vn
cao để cho nước ra vào tự do. Ai cũng leo lên sàn cao nhất và phải khen
họ vì không bao giờ lụt bén tới bởi họ đã lấy kích thước chính xác, do
kinh nghiệm lâu năm, của mực nước cao thấp, do đó họ không sợ vì họ
biết chắc là nước luôn ở phía dưới nhà họ.
Chú thích
[1] Buzomi tới Đàng Trong năm 1615, de Pina tới năm 1617 và Borri
với Marquez tới năm 1618. Cha De Pina rất thông thạo tiếng Việt và là
thầy dạy De Rhodes sau này
https://thuviensach.vn
CHƯƠNG 3: ĐẤT ĐAI PHÌ NHIÊU
Người ta dễ dàng nhận thấy là nước lụt đã làm cho đất đai ở xứ
Đàng Trong phì nhiêu, như chúng tôi vừa nói. Tuy nhiên, tôi thấy còn phải
kể nhiều sự đặc biệt khác nữa.
Nước lụt làm cho đất mầu mỡ và phì nhiêu nên mỗi năm có ba vụ
lúa [1], đầy đủ và dồi dào đến nỗi không ai phải lam lũ vất vả để sinh
sống, ai cũng sung túc.
Quanh năm có rất nhiều và có đủ thứ trái cây như ở An Độ, vì xứ
Đàng Trong có cùng khí hậu như ở An. Nhưng đặc biệt là cam ở Đàng
Trong trái lớn hơn ở Châu Au to và rất ngọt. Vỏ rất dể bóc, mềm và
ngon, cam có thể ăn được cả vỏ lẫn ruột và có mùi vị thơm như trái
chanh [2] ở Ý. Ở đây người ta cũng thấy một số trái khác người Bồ gọi
là chuối, người khác gọi là vả An Độ. Theo ý tôi thì không xác đáng vì ở
An không có cây nào được gọi là vả, và cây ở Đàng Trong không có gì
giống cây vả của chúng ta, về thân cây cũng như về trái. Về thân cây thì
nó giống như cây chúng ta gọi là “lúa mì Thổ Nhĩ Kỳ” tuy cao lớn hơn, là
rất dài và rất to bản, đến độ chỉ cần hai lá cũng đủ để có thể che một
người từ chân đến đỉnh đầu và bao quanh cả người. Do đó mà có người
muốn gọi cây này là “cây vườn địa đàng” và Ađam đã lấy lá của nó để
che giấu sự trần truồng của mình [3]. Cây này trổ ngay trên ngọn một
buồng gồm hai mươi, ba mươi hay bốn mươi trái cột chặt với nhau, mỗi
trái về hình thù, bề dài và độ lớn, đều giống trái chanh thông thường ở Ý.
Khi trái chưa hoàn toàn chín thì vỏ xanh và sau đó trở nên vàng giống hệt
như chanh. Không cần dùng dao để bổ hay gọt vỏ, người ta lột vỏ rất dễ
dàng như bóc đâu mới hái. Mùi thì rất thơm, ruột vàng và khá cứng chắc
như một trái lê bergam chín muồi của ta, dễ tan trong miệng. Do đó
không thể nói là nó giống cây vả của chúng ta được, trừ vị thơm ngon và
dịu ngọt. Cũng còn một thứ trái khác thuộc loại này, người ta sấy và
ngâm rượu [4]. Hàng năm, sau khi cây có trái, sẽ héo đi và một nhánh con
trổ ở gốc để cho năm sau. Ở Ý chúng ta gọi là cây vả An Độ, nhưng thực
ra không có gì giống về cây cũng như về trái chuối này. Bây giờ chúng tôi
nói tới cây (chúng ta gọi là cây vả An Độ, nhưng không phải là cây người
ta thấy ở những miền này).
https://thuviensach.vn
Trái này có rất nhiều ở hầu hết các tỉnh An Độ, nhưng ở Đàng
Trong còn một thứ không thấy ở Trung Quốc cũng như ở khắp An Độ.
Trái nó to, như trái chanh lớn nhất ở Ý và to đến nỗi chỉ căn một trái cũng
đủ no. Ruột thì trắng và có rất nhiều hạt nhỏ đen và tròn, người ta nhai
lẫn với ruột. Các hạt này có vị thơm ngon và rất tốt cho dạ dày.
Ở Đàng Trong cũng còn một loại trái cây nữa, tôi không thấy có ở
An Độ, người ta gọi là cam [5]. Về hình thù và chất vỏ, nó giống như lựu
của ta, nhưng ruột bên trong hơi lỏng phải dùng thìa để múc và có vị
thơm và có màu gần giống trái sơn trà chín.
Họ cũng có thứ giống như trái anh đào của ta, nhưng mùi vị thì lại
như trái nho theo tiếng họ gọi là gnoo.
Họ không thiếu dưa, nhưng không ngon bằng dưa của ta, nên phải
ăn với đường hay mật. Dưa gang hay dưa nước, như nhiều người gọi,
rất to và rất tuyệt.
Có một trái gọi là mít. Trái này cũng có ở An Độ, nhưng không
ngon bằng trái ở Đàng Trong. Trái mọc ở trên một cây cao như cây hồ đào
và cây dẻ của ta, nhưng gai thì dài hơn nhiều. Trái to như trái bí ngô lớn ở
Ý và chỉ cần một trái cũng đủ cho một người vác. Bề ngoài nó có hình
thù của một nón thông, nhưng ruột thì dịu và mềm. Bên trong thì đầy
những múi vàng có hột dẹp và tròn như đồng tiền ở Ý hay đồng “teston”
(ở Pháp). Ở giữa mỗi múi có hạt [6] người ta bỏ đi không ăn. Có hai
loại[7], một loại người Bồ gọi là “giaca barca”, dóc hột, ruột cứng. Loại
thứ hai không dóc hột và ruột không cứng bằng, rất mềm và nát như keo.
Mùi vị của cả hai loại này rất ngon gọi là sầu riêng chúng tôi sẽ nói sau
đây.
Trái “durion” (sầu riêng) là một trong những trái ngon nhất hoàn
cầu, không thấy có ở đâu trừ ở Malacca, Bornéô và mấy đảo xung quanh.
Không có gì để nói giữa cây này và cây mít. Bên ngoài, trái này cũng
giống trái mít và trái thông của ta, cả về kích thước cũng như độ cứng
của vỏ. Còn thịt thì bám vào hột như keo, rất trắng, còn mùi vị thì giống
như món đông hạnh nhân của người Ý [8]. Thịt và nước ngọt của nó
được chứa trong mười hay mười hai ngăn nhỏ, mỗi ngăn có nhiều múi
thịt trắng bọc quanh hột, to bằng hạt dẻ lớn nhất của ta. Khi mở ra thì
xông mùi khó chịu như mùi hành thối, nhưng ở trong thì không có mùi và
lại rất thơm ngon. Tôi kể ở đây một câu chuyện xảy ra trước mắt tôi. Số
là có một người muốn cho một giáo sĩ cao cấp mới tới Malacca thưởng
https://thuviensach.vn
thức trái này và không báo trước. Ông mở một trái ngay trước mặt vị giáo
chủ. Mùi khá nặng và khó chịu xông ra làm cho giáo chủ ghê sợ và nản
không dùng được. Nhưng lúc ngồi vào bàn tiệc, trong các món ăn có một
món chỉ toàn là trái cây có mùi vị thơm giống món đông hạnh nhân làm
cho giáo chủ dễ lầm cũng như bất cứ ai chưa được biết trước. Ông vừa
đưa tay lấy một miếng thứ nhất và nếm thì thấy rất ngon làm ông bỡ
ngỡ và hỏi xem người đầu bếp nào khéo dọn món đông hạnh nhân ngon
đến thế. Chủ nhà mỉm cười trả lời là chẳng có hỏa đầu quân nào ngoài
Thiên Chúa cao cả đã cho xứ này một trái hiếm gọi là sầu riêng mà lúc
đầu ông đã ghê sợ. Nghe tới đây vị giáo chủ sửng sốt và hết lời ca ngợi,
ông dùng rất ngon miệng. Thế nhưng trái này ngon đến độ ngay ở
Malacca là nơi sản sinh, nhiều khi giá lên tới một đồng “êcu” một trái.
Xứ Đàng Trong còn có một loại trái khác người Bồ gọi là dứa. Và
tôi biết trái này cũng rất thông thường ở khắp An Độ và ở Brésil. Tuy
nhiên, vì tôi thấy người ta tả không đúng theo ý tôi lắm, nên tôi nghĩ là
phải nói một chút. Trái này không trổ trên cây, cũng không do hạt giống,
nhưng do rễ như thể cây atisô của ta. Thân và lá hoàn toàn giống như cây
các đông và atisô của ta. Trái hình tròn dài bằng chín ngón tay [9] và to
như thể lấy hai vốc tay ôm vừa. Ruột ở trong thì dày như ruột cải củ,
nhưng vỏ thì cứng hơn và sờm như vây cá. Khi chín bên trong vàng và sau
khi lấy dao gọt vỏ thì ăn sống. Trái có vị chua dịu và khi chín thì thơm
ngon như trái lê “bergam”.
Ở xứ Đàng Trong còn một trái khác đặc biệt của xứ này người Bồ
gọi là “aerca” (cau). Cây nó mọc thẳng như cây dừa, rỗng ở trong và chỉ
đâm lá ở chóp đỉnh, lá tựa như lá dừa: ở giữa các tàu lá, nảy các ngành
nhỏ có trái. Trái có hình thù và kích thước của trái hồ đào [10], sắc xanh
cũng như vỏ hồ đào, còn ruột thì trắng và cứng như trái dẻ [11] chẳng có
mùi vị gì hết. Trái này không ăn một mình, nhưng ăn với lá trầu không,
thứ cây rất thông dụng ở khắp An Độ, lá như lá thường xuân [12] ở Châu
Au và thân bám vào cây chống như giống cây thường xuân. Người ta hái
lá cắt thành từng miếng nhỏ và trong mỗi miếng để một miếng cau, như
vậy mỗi trái có thể làm thành bốn hay năm miếng. Người ta còn thêm vôi
với cau. Vôi ở xứ này không làm bằng đá như ở Châu Au, nhưng bằng vỏ
sò hến [13]. Vì trong nhà thường có những người chuyên lo việc bếp núc,
chợ búa và các việc khác, nên ở Đàng Trong mỗi nhà đều có một người
không có việc gì khác hơn là việc têm trầu, những người dùng vào việc
https://thuviensach.vn
này thường là đàn bà, nên gọi là các bà têm trầu. Những miếng trầu đã
têm sẵn thì để vào trong hộp và suốt ngày người ta nhai trầu, không
những khi ở trong nhà mà cả khi đi lại trong phố chợ, cả lúc nói, ở mọi
nơi, mọi lúc. Và sau khi đã nhai trầu lâu và nghiền trong miệng người ta
không nuốt mà nhả ra, chỉ giữ hương vị và phẩm chất tăng thêm sức
mạnh cho dạ dày một cách kỳ lạ. Trái này được têm thành miếng rất
thông dụng đến nỗi khi tới thăm ai, người ta đem theo một túi đầy trầu và
mời người mình tới thăm, người chủ nhà lấy một miếng cho ngay vào
miệng. Trước khi người khách từ biệt ra về, chủ nhà sai người têm trầu
của nhà mình đem ra một túi để mời người khách đến thăm mình, như để
đáp lại sự lịch thiệp mình đã nhận được. Do đó vì cần phải có sẵn coi
trầu cau và có liên tục, nên cau cũng là một nguồn lợi lớn ở xứ này, có
vườn cau thì cũng như ở xứ chúng ta có ruộng nho và ruộng ôliu. Họ
cũng hút thuốc lá, nhưng thuốc lá không thông dụng bằng trầu cau. Cũng
có đầy đủ các loại mướp và có cả mía nữa. Các trái cây ở Châu Au thì
cho tới nay chưa được đưa tới xứ Đàng Trong. Tôi tin rằng nho và vả sẽ
mọc được ở đây, những thứ rau như rau diếp, rau diếp xoắn, sú và những
thứ rau tương tự hiện có ở Đàng Trong như ở khắp An Độ, nhưng chúng
chỉ ra lá mà không có hạt và nếu muốn gieo thì phải đem hạt từ Châu Au
qua.
Thịt thà thì rất nhiều ở đây vì có vô số súc vật bốn chân nuôi trong
nhà như bò, dê, lợn, trâu và các giống tương tự, và thú rừng như hươu nai
to lớn hơn ở Châu Au, lợn rừng và mấy loại khác. Gia cầm như gà nhà và
gà rừng rất nhiều ở thôn quê, chim gáy, chim bồ câu, vịt, ngỗng, sếu, thịt
thơm ngon và sau cùng là mấy thứ khác ở Châu Au không có.
Ngành ngư nghiệp cũng rất thịnh vượng và cá ở đây có hương vị
tuyệt diệu và rất đặc biệt, tôi đã qua nhiều đại dương, đã đi nhiều nước,
nhưng tôi cho rằng không nơi nào có thể so sánh được với xứ Đàng
Trong. Và như tôi đã viết, xứ này chạy dọc bờ biển, nên có rất nhiều
thuyền đánh cá và rất nhiều thuyền tải cá đi khắp xứ, từng đoàn người
chuyển cá từ biển tới tận miền núi, có thể nói trong một ngày hai mươi
bốn tiếng đồng hồ thì ít ra họ dùng tới hai mươi tiếng để làm việc này.
Thực ra người Đàng Trong ăn cá nhiều hơn ăn thịt. Họ chuyên chú đánh
cá chủ yếu là vì họ rất ham thứ nước “sốt” [14] gọi là balaciam [15] làm
bằng cá ướp muối cho mềm và làm nhão ra trong nước. Đây là một thứ
nước cốt cay cay tựa như mù tạt (moutarde) của ta, nhà nào cũng dự trữ
https://thuviensach.vn
một lượng lớn đựng đầy trong chum, vại như tại nhiều nơi ở Châu Au,
người ta dự trữ rượu. Thứ nước cá này dùng một mình thì không nuốt
được nhưng được dùng để gợi nên hương vị và kích thích tì vị để ăn cơm
vốn nhạt nhẽo và không có mùi vị nếu không có thứ nước đó. Vì cơm là
thức ăn chung và thông thường của xứ Đàng Trong, nên cần phải có rất
nhiều balaciam (nếu không thì không có mùi vị) và do đó phải có một
lượng lớn nước mắm và cũng do đó phải liên tục đánh cá. Cũng không ít
sò, hến và các hải sản khác, nhất là một thứ họ gọi là cameron [16].
Nhưng ngoài tất cả những gì đã nói, Thiên Chúa quan phòng còn
dành cho họ một thức ăn hiếm và ngon, theo thiển ý tôi, chỉ có thể so
sánh được với manna [17] Thiên Chúa dùng để nuôi dân riêng của Người
trong sa mạc và thức ăn này rất đặc biệt chỉ có ở xứ Đàng Trong chứ
không đâu có. Những điều tôi sẽ nói thì không phải bởi tôi đã nghe hay
theo người khác kể lại, nhưng chính tôi có kinh nghiệm, tôi đã thấy và
thường được ăn. Ở xứ này có một thứ chim be bé giống như chim én, nó
làm tổ [18] ở các cồn đá và hốc đá sóng biển vỗ vào. Con vật nhỏ này
dùng mỏ lấy bọt biển và với chất toát ra từ dạ dày, trộn cả hai thứ lại
làm thành một thứ tôi không biết là bùn hay nhựa để làm tổ. Tổ này khi
đã khô cứng thì trong suốt và có sắc vừa vàng vừa xanh. Dân xứ này nhặt
những tổ đó về ngâm trong nước cho mềm và tan rã, rồi dùng làm đồ gia
vị trộn với thịt, các thứ thịt, cá, rau, hoặc thứ nào khác làm cho các món ăn
có một hương vị khác nhau tuỳ món như thể đã sẵn cho hồ tiêu, quế, đinh
hương hay các thứ gia vị khác, như vậy chỉ một tổ yến mà có thể làm gia
vị cho hết các thứ thịt, không cần thêm muối, dầu, mỡ hay thứ gì tương
tự. Vì thế tôi nói, nó giống như manna, có hương vị của hầu hết các món
thơm ngon nhất, chỉ khác, một đàng là do công trình của một con chim bé
nhỏ và một đàng là do tay các thiên thần của Thượng Đế nhào nặn. Thứ
này nhiều đến nỗi chính tôi đã thấy người ta chất đầy mười chiếc
thuyền nhỏ những tổ yến nhặt ở dọc các hốc núi đá, trong khoảng chưa
đầy nửa dặm. Và đây là món rất ngon, nên chỉ có chúa độc quyền sử
dụng, người ta dành tất cả cho ngài và ngài đem một số lớn cống vua Tàu
là người rất chuộng.
Dân ở đây không dùng sữa, họ cho là trọng tội nếu vắt sữa bò, họ
sợ nếu làm việc đó là mang tội, vì theo thiên nhiên thì sữa dành để nó
nuôi con. Như thể bò nuôi con mà không được sử dụng thứ lương thực
dành riêng cho con.
https://thuviensach.vn
Họ còn ăn mấy thứ chúng ta rất sợ và chúng ta coi như độc, thí dụ
con tắc kè, con vật này nhỉnh hơn những con đã phơi khô nhập cảng từ
ngoại quốc và thường đem về Ý. Tôi đã thấy người bạn tôi mua mấy
con, buộc lại thành bó và đem nướng trên than hồng. Giây buộc đứt và
chúng bò lê thê theo kiểu của chúng trên than hồng cho tới lúc thấy sức
nóng thì chúng chống đỡ một chút vì lúc này rất lạnh, nhưng cuối cùng
chúng bị thiêu và nướng chín. Thế là ông bạn tôi lôi ra, lấy dao lóc lớp da
đã cháy, thịt nó rất trắng, ông bạn tôi nghiền thịt ra và trộn với một thứ
“nước sốt” đem đun chín rồi bỏ bơ vào ăn như một thứ thịt rất thơm
ngon. Ông mời tôi, nhưng tôi không dùng, chỉ nhìn theo mà thôi.
Còn về tất cả những gì thuộc đời sống hằng ngày, xứ Đàng Trong
cũng rất đầy đủ. Thứ nhất là áo mặc, họ có rất nhiều tơ lụa đến nỗi dân
lao động và người nghèo cũng dùng hàng ngày. Vì thế đã hơn một lần tôi
rất thích thú khi thấy đàn ông, đàn bà khuân vác đá, đất, vôi và những vật
liệu tương tự mà không hề cẩn thận giữ cho áo đạp và quý họ mặc khỏi
rách hay bẩn. Điều này không có gì lạ, nếu biết rằng có những cây dâu
cao lớn người ta hái lá để nuôi tằm được trồng trong những thửa ruộng
rộng lớn như cây gai ở bên ta, và mọc lên rất chóng. Thế nên chỉ trong
một ít tháng là tằm được đưa ra nuôi ngoài khí trời và đồng thời nhả tơ,
làm thành những cái kén nhỏ với số lượng rất nhiều và dư thừa đến nỗi
người Đàng Trong đủ dùng riêng cho mình mà còn bán cho Nhật Bản và
gửi sang nước Lào để rồi đưa sang Tây Tạng [19]. Thứ lụa này tuy không
thanh và mịn nhưng bền và chắc hơn lụa Tàu.
Nhà cửa và đền đài, mặc dầu chỉ bằng gỗ, nhưng không thua kém
bất cứ nước nào, bởi vì không nói quá chút nào, gỗ ở xứ này là gỗ quý
nhất hoàn cầu, theo nhận xét của những người ở các nơi đó. Trong vô số
cây và vô số loại cây ở đây, có hai thứ thường được dùng để làm nhà cửa
và là thứ không bao giờ hư mặc dầu bị ngâm trong nước hay vùi trong
bùn, và rất chắc, rất nặng đến nỗi không bao giờ nổi trên mặt nước và
dùng làm neo tàu. Một thứ là gỗ đen, nhưng không phải đen như mun,
loại thứ hai có mầu đỏ hung. Cả hai sau khi được lóc vỏ thì nhẵn và trơn
không cần phải bào. Các cây đó gọi là Tin [20] và rất có thể người đó
không lầm khi nói rằng thứ gỗ không bao giờ hư đó là gỗ chính vua
Salomon đã dùng để dựng Đền thánh và chúng ta được biết qua Kinh
Thánh rằng thứ cây này được gọi bằng một cái tên rất gần với tên này,
ligna thying [21]. Núi xứ Đàng Trong mọc đầy loại cây này, thẳng tắp và
https://thuviensach.vn
cao ngất nghểu, như thể ngọn chạm tới mây và lớn bằng hai người ôm.
Người Đàng Trong dùng gỗ này để dựng nhà và ai nấy đều có thể lên núi
chặt tuỳ thích. Tất cả kiến trúc nhà đều dựa vào hàng cột cao, chắc và
đóng rất sâu, rồi lắp ván, nhưng người ta có thể tháo gỡ ra và thay thế
bằng phên liếp, bằng tre, sậy đan rất tài tình để thông khí trong mùa nóng
bức và một phần nào cho nước và thuyền qua lại tự do vào mùa lụt lội
như chúng tôi đã nói ở trên. Họ cũng làm rất nhiều hoa lá nhỏ xinh và
nhiều hình hài khéo léo để tô điểm trang trí nhà của họ, họ chạm trổ và
đẽo gọt gỗ ván rất công phu.
Vì chúng tôi đang nói về cây cối và trước khi qua đề tài khác, tôi
xin thêm ít điều về một loại gỗ vốn là món hàng quý nhất có thể xuất từ
xứ Đàng Trong ra các nước ngoài. Đó là thứ gỗ nổi tiếng gọi là aquila và
calamba [22]; cùng loại gỗ nhưng khác về tác dụng và sự quý chuộng
người ta dành cho chúng.
Loại cây này có rất nhiều, nhất là trên núi Kẻ Mọi, cây rất to và rất
cao. Nếu gỗ cắt ở thân cây non thì là trầm hương, có rất nhiều và ai
muốn lấy bao nhiêu tuỳ thích. Nhưng khi lấy ở gốc già thì đó là kỳ nam
rất khó hiếm, vì hình như thiên nhiên cho những cây đó mọc lên ở những
ngọn núi cao nhất và hiểm trở nhất để được thảnh thơi già cỗi đi, không
ai làm hại được mình. Thỉnh thoảng có ít cành gẫy và rời khỏi thân rơi
xuống, hoặc vì khô quá hoặc vì già cỗi quá khi người ta nhặt được thì đã
mục nát và mốc thếch. Nhưng đó lại là thứ có giá nhất và lừng danh nhất
gọi là kỳ nam vượt hẳn thứ trầm hương thông thường rất nhiều về tác
dụng và về hương thơm. Trầm hương thì ai cũng có thể bán tuỳ thích
nhưng chúa giữ độc quyền mua bán kỳ nam vì hương thơm và tác dụng
đặc biệt của nó. Thực ra ở chính nơi nhặt được, nó rất thơm, rất dịu, tôi
đã muốn thử mấy miếng người ta cho tôi, tôi đem chôn dưới đất sâu
chừng hơn năm chân [23] thế mà vẫn ngửi thấy hương thơm. Kỳ nam
nhặt tại chỗ thì giá năm đồng đuca [24] một líu, nhưng ở hải cảng xứ
Đàng Trong, nơi buôn bán thì đắt hơn, nghĩa là hai trăm đuca một líu. Nếu
tìm được một tấm lớn có thể làm gối để gối đầu, còn hay làm gối dài
[25] thì người Nhật mua tới ba trăm hay bốn trăm đuca một líu. Là vì
người ta nghiệm thấy, vì sức khỏe thì nên dùng làm gối một thứ gì cứng
hơn là thứ gối làm bằng lông vừa không lành vừa hay sinh bệnh. Thường
thì họ dùng một phiến gỗ, và tuỳ theo khả năng, người ta mong có được
thứ gỗ quý nhất có thể sắm được [26]. Trầm hương thì ít được trọng
https://thuviensach.vn
hơn và giá cũng rẻ hơn kỳ nam, nhưng chỉ một tàu chở đầy trầm hương
cũng đủ cho thương gia trở nên giàu có và sung túc suốt đời. Thế nên
phần thưởng lớn nhất chúa ban cho thuyền trưởng Malacca, đó là cho
phép ông buôn trầm hương. Bởi vì người Bàlamôn và người Banian [27]
ở An Độ có tục hỏa thiêu xác người chết bằng gỗ rất thơm, nên họ cần
có ngay một số lượng lớn.
Sau cùng, xứ Đàng Trong có rất nhiều mỏ kim khí quý và nhất là
vàng. Và để hiểu biết thêm bằng vài lời những gì đáng được kể dài dòng
hơn nữa về sự giàu có của xứ này thì tôi kết thúc chương này bằng lời
của các thương gia Châu Au đã có dịp tới đây. Họ quyết rằng xứ Đàng
Trong có nhiều của cải hơn Trung Quốc mà chúng tôi biết là rất dồi dào
về mọi thứ.
Phải nói thêm ở đây chút ít về các thú vật chúng tôi đã nói là có rất
nhiều ở Đàng Trong, nhưng để khỏi nói nhiều, tôi chỉ xin nói về voi và tê
giác, nhất là ở xứ này và nhiều chuyện kỳ lạ chưa bao giờ nghe thấy.
Chú thích
[1] Ba vụ lúa: chúng tôi chưa biết rõ việc này.
[2] Chanh ở Ý lớn hơn chanh của ta, màu vàng chứ không xanh như
ta.
[3] Theo Kinh Thánh, sau khi phạm tội ăn trái cấm, tổ tiên thấy
mình trần truồng và phải lấy lá che thân.
[4] Có thể là một thứ chuối “ngự” thơm và nhỏ, hay một thứ trái
cây nào khác.
[5] Trái nói ở trên có thể là trái ổi còn trái “cam” này có thể là trái
thanh long.
[6] Có thể cho trái mít cũng thuộc về loại “sầu riêng”
[7] Mít mật và mít dai
[8] Món hạnh nhân tán nhỏ hòa với đường, rồi để vào tủ lạnh, món
ăn rất sang của người Châu Au vào thời này.
[9] “Pouce” cách đo thời xưa cũng như kiểu đo gang tay hay sải.
[10] Tiếng Pháp: noix
[11]Tiếng Pháp: châtaignes
[12] Tiếng Pháp: lierre, thứ như nho dại, lá xanh và leo trên tường
[13] Thứ vôi này có màu hồng
[14] Nước sốt (sauce), một thứ nước dùng riêng đằng đặc gồm
nước thịt và mỡ béo để tưới vào các thức ăn khô và nhạt.
https://thuviensach.vn
[15] Nước mắm rất danh tiếng của ta
[16] Chúng tôi chưa rõ đây là thứ gì
[17] Thức ăn từ trời rơi xuống, có mùi vị theo sở thích người dùng.
[18] Chim yến, tổ yến. “Người ta cho rằng, ban ngày chim yến đi
kiếm ăn, nuốt cả con trong biển, rồi đêm đến nhả nước dãi thành những
vành tròn hình xoáy ốc để xây tổ (Đỗ Tất Lợi: Những cây thuốc và vị
thuốc ở Việt Nam, Hà Nội 1981, tr.945)
[19] Vào thế kỷ 15, 16, 17 người Châu Au qua phương Đông nhất
là Trung Quốc để buôn hồ tiêu và tơ lụa, vì thế có con đường gọi là con
đường tơ lụa (route de la soie)
[20] Gỗ lim
[21] Chúng tôi chưa nghiên cứu xem danh từ này có nghĩa thế nào.
Nếu là lim thì theo Đỗ Tất Lợi, sách dẫn, là những thứ cây mọc phổ biến
của nước ta, nhất là tại những khu rừng miền Bắc và miền Trung. Còn
thấy ở Lào, miền Nam Trung Quốc. Thường người ta khai thác gỗ làm
nhà, làm đồ dùng. Có thể cao hơn mười thước hoặc hơn nữa (tr.361)
[22] Trầm hương: kỳ nam là loại trầm hương quý nhất, xem: Đỗ
Tất Lợi, sd tr.449-450.
[23] Pied: chân, cách đo thời xưa, chừng 0.3407m
[24] Đồng tiền này thường đúc bằng vàng vào thế kỷ 13 tại Venise
(Ý) lúc đó là một cộng hòa độc lập và rất thịnh vượng. Líu: livre, tức nửa
cân.
[25] Gối dài là thứ gối theo suốt bề ngang của chiếc giường lớn.
[26] Ở xứ nóng thường dùng gối mây hoặc gỗ, khác hẳn các xứ
lạnh.
[27] Không rõ thuộc tôn giáo nào, còn đạo Bàlamôn là đạo chính
yếu của An Độ.
https://thuviensach.vn
CHƯƠNG 4: VOI VÀ TÊ GIÁC
Rừng xứ Đàng Trong có rất nhiều voi, nhưng người ta không sử
dụng được vì chưa biết cách bắt và luyện chúng. Vì thế phải đưa những
con voi đã thuần phục và dạy dỗ từ nước láng giềng Campuchia. Voi ở
đây lớn gấp hai voi ở An Độ. Chân và vết chân nó để lại đường kính đo
được chừng nửa mét. Răng thò ra từ miệng gọi là ngà voi thì dài tới 4.7m,
đó là voi đực. Ngà của voi cái thì ngắn hơn nhiều. Vì thế người ta dễ
nhận thấy voi ở xứ Đàng Trong to lớn hơn voi người ta vẫn dẫn đi diễu
ở Châu Au tới mức nào: ngà của các con voi này chưa được 8 tấc.
Voi sống lâu năm. Một lần tôi hỏi tuổi một con voi tôi gặp thì
người quản tượng đạp là đã sáu mươi tuổi ở Campuchia và bốn mươi ở
Đàng Trong. Vì tôi đã di chuyển nhiều lần trên lưng voi ở xứ Đàng Trong
nên tôi có thể kể lại mấy câu chuyện kỳ lạ, nhưng có thật. Voi thường
chở tới mười ba hay mười bốn người, theo cách thức sau đây. Cũng như
chúng ta thắng yên trên lưng ngựa, người ta cũng đặt trên lưng voi một
bành lớn như cỗ kiệu trong đó có bốn chỗ ngồi và người ta buộc bằng
chão sắt luồn dưới bụng voi như yên và đai ngựa. Bành có cửa mở hai
bên và có thể chứa được sáu người, ngồi làm hai hàng, mỗi hàng ba
người, một người ngồi ở đằng sau với hai người nữa, và cuối cùng là...
 





