TRƯỜNG THPT NGUYỄN THỊ MINH KHAI (ĐỨC THỌ) 50 NĂM NIỀM TIN VÀ KHÁT VỌNG
Vẻ đẹp của thơ ca

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: đỗ công khương
Ngày gửi: 06h:51' 26-10-2024
Dung lượng: 18.2 MB
Số lượt tải: 117
Nguồn:
Người gửi: đỗ công khương
Ngày gửi: 06h:51' 26-10-2024
Dung lượng: 18.2 MB
Số lượt tải: 117
Số lượt thích:
0 người
VIẾT
VIẾT VĂN BẢN NGHỊ LUẬN PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ
MỘT TÁC PHẨM THƠ
LUẬT CHƠI
KHỞI ĐỘNG
Chia lớp thành 4 nhóm tương đương 4 đội
chơi. Trong thời gian 3 phút mỗi đội viết
những từ ngữ thể hiện cảm nhận của mình
về bài thơ “Mùa xuân xanh” lên giấy dán.
Trong khoảng thời gian 1 phút nhóm nào
dán được nhiều từ hơn, các từ có giá trị
biểu cảm cao hơn sẽ giành chiến thắng.
“Mùa
xuân
xanh”
HÌNH THÀNH KIẾN THỨC
I. Tìm hiểu chung về bài văn nghị luận phân tích, đánh giá
một tác phẩm thơ
1. Tìm hiểu bài viết tham khảo SGK:
- Vấn đề chính được bàn luận: Vẻ đẹp của bài thơ Mùa
xuân xanh
- Bài nghị luận giúp người đọc hiểu về các điệu xanh của
bài thơ Mùa xuân xanh thể hiện qua các yếu tố nghệ thuật
của bài thơ
- Tác giả đã triển khai các luận điểm theo trình tự:
+ Giới thiệu chung (nhan đề, tác giả, tác phẩm, định hướng phân
tích)
Phân tích các yếu tố làm nên vẻ đẹp của thơ (Từ ngữ, hình
ảnh, cách tổ chức nhịp điệu, nhạc điệu, các phép tu từ đối,
điệp, cách liên kết mạch cảm xúc và hình ảnh,…)
Mở rộng vấn đề bài viết
Kết luận: tóm lược các ý kiến khẳng định giá trị của bài thơ.
Những
điệu xanh
của mùa
xuân
Phân tích mạch
triển khai hệ
thống hình ảnh
trong bài thơ.
Nêu ấn tượng trước
sự gợi mở của nhan
đề và câu mở đầu
bài thơ.
Liên hệ, so sánh
với thơ truyền
thống để làm rõ
những nét mới mẻ
của bài thơ.
Phân tích phép
đối, phép điệp và
hiệu quả thẩm mĩ
mà các phép tu từ
này gợi ra.
Khẳng định giá trị
thẩm mĩ và giá trị
nhân bản của bài
thơ.
2. Tìm hiểu những đặc điểm của bài văn nghị luận phân tích,
đánh giá một tác phẩm thơ
Bài văn nghị
luận phân tích,
đánh giá một
tác phẩm thơ
không phải là
một bài phát
biểu cảm nhận
đơn thuần.
Kiểu bài viết này
đòi hỏi sự chặt chẽ
trong lập luận, sự
sáng rõ, sắc nét
của luận điểm và
sự mạch lạc trong
tổ chức bài viết.
Bởi vậy, người viết
cần nắm chắc các tri
thức về đặc trưng
thi ca đã được giới
thiệu trong các bài
học và được làm rõ
qua các tiết đọc văn
bản để có những
phân tích, đánh giá
thuyết phục.
3. Các yếu tố chủ yếu của một bài thơ gồm:
+ Mạch cảm xúc của thi nhân được gửi qua những rung động và tình
cảm của nhân vật trữ tình.
+ Các yếu tố về hình thức nghệ thuật: Từ ngữ, hình ảnh, cách tổ chức
nhịp điệu, nhạc điệu, cách liên kết mạch cảm xúc và hình ảnh,…
Ví dụ một số đề bài văn nghị luận phân tích đánh giá một tác phẩm
thơ:
- Vẻ đẹp của mùa thu trong bài thơ Thu hứng
- Phân tích sự độc đáo của những hình ảnh trong thơ hai-cư
- Cảm nhận về mạch liên kết cảm xúc trong bài thơ Mùa xuân chín
4. Yêu cầu đối với bài văn nghị luận phân tích, đánh giá
một tác phẩm thơ
Giới thiệu
ngắn gọn về
bài thơ được
chọn
Chỉ ra và
phân tích
được những
nét đặc sắc,
độc đáo của
bài thơ
Đánh giá giá
trị của bài thơ
về phương
diện nghệ
thuật cũng
như ý nghĩa
nhân sinh.
II. Tìm ý, lập dàn ý bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác
phẩm thơ
1. Cách tìm ý cho bài văn nghị luận phân tích, đánh giá
một tác phẩm thơ
- Đọc lại bài thơ đã lựa chọn. Có thể đọc thầm hoặc đọc
thành tiếng để cảm nhận đầy đủ hơn về âm điệu, nhịp điệu
của nó. Chú ý những cách diễn đạt lạ, có thể lần đầu mình
bắt gặp và những hình ảnh gây ấn tượng. Sau khi đọc, hãy
suy nghĩ vì sao bài thơ lại có những cách tổ chức và kết hợp
ngôn từ đặc biệt như vậy.
- Liên kết âm điệu, nhịp điệu, ngôn ngữ, hình ảnh của bài
thơ và chú ý xem mạch liên kết này có thể đem đến cho
bạn sự bất ngờ nào trong cảm xúc, liên tưởng và nhận
thức.
- Tìm hiểu thêm thông tin về tác giả và hoàn cảnh sáng
tác, chú ý bối cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa, văn học của
bài thơ - có thể giúp hiểu sâu hơn về ngôn ngữ, hình ảnh,
cảm xúc và tư tưởng của bài thơ.
- Khi phân tích nội dung nghệ thuật của bài thơ, chú ý vận
dụng các thao tác so sánh và liên tưởng một cách thích hợp.
(Ví dụ: so sánh từ ngữ mà nhà thơ lựa chọn với những từ ngữ
đồng nghĩa, gần nghĩa, từ đó lý giải vì sao lựa chọn của nhà
thơ có thể được xem là tối ưu.)
- Cần tập trung vào những phương diện hình thức nghệ thuật
và nội dung của bài thơ mà người đọc xem là độc đáo, mới
mẻ, thú vị.
- Khi đánh giá bài thơ, cần chú ý đầy đủ các giá trị
thẩm mĩ và giá trị nhân văn của nó. (Bài thơ gợi cho
bạn những trải nghiệm đặc biệt gì về cảm giác, cảm
xúc, nhận thức? Những trải nghiệm đó có ý nghĩa
như thế nào đối với bạn?)
* Mở bài: Giới thiệu ngắn
gọn về bài thơ (tác giả, thời
điểm ra đời, nơi xuất bản,
đánh giá chung của dư luận,
…) và nêu vấn đề chính sẽ
được tập trung phân tích trong
bài viết.
* Thân bài
Phân
tích,
đánh giá mạch
ý tưởng, cảm
xúc của nhân
vật trữ tình
Phân tích, đánh
giá sự phát triển
của hình tượng
chính và tính độc
đáo của những
phương tiện ngôn
từ đã được sử
dụng
Phân tích, đánh
giá nét hấp dẫn
riêng của bài thơ
so với những
sáng tác khác
cùng đề tài, chủ
đề, thể loại
* Kết bài
Khẳng định giá trị
tư tưởng và giá trị
thẩm mĩ của bài
thơ, ý nghĩa của bài
thơ đối với người
viết bài nghị luận.
III. Thực hành
Đề bài: Vẻ đẹp thiên
nhiên và con người
trong bài thơ “Đây
thôn Vĩ Dạ” của Hàn
Mặc Tử
1. Bước 1: Chuẩn bị viết
Dạng bài: nghị luận đánh giá, phân tích một tác phẩm thơ
Về nội dung: Vẻ đẹp thiên nhiên và con người trong bài
thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử
Về thao tác lập luận: Sử dụng tổng hợp các thao tác lập
luận để triển khai vấn đề nghị luận
Về phạm vi dẫn chứng: Sử dụng ngữ liệu trong tác phẩm
“Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử
1. Bước 1: Chuẩn bị viết
Hệ thống luận điểm triển khai bài viết:
Giới thiệu tác giả, tác phẩm, nhan đề bài thơ
Phân tích, đánh giá sự gợi mở của nhan đề bài thơ
Phân tích, đánh giá mạch cảm xúc của nhà thơ
Phân tích vẻ đẹp thiên nhiên và con người qua những tín hiệu
thẩm mĩ (từ ngữ, cách gieo vần, ngắt nhịp, các biện pháp tu từ,…)
Nét hấp dẫn riêng của bài thơ so với những sáng tác khác cùng đề
tài, chủ để, thể loại (của chính nhà thơ hoặc của những tác giả
khác).
2. Bước 2: Tìm ý và lập dàn ý
PHIẾU TÌM Ý:
Vẻ đẹp thiên nhiên và con người trong bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” của
Hàn Mặc Tử
Các ý cần tìm hiểu
Ý nghĩa nhan đề
Mạch cảm xúc của nhân vật trữ tình
Vẻ đẹp thiên nhiên trong “Đây thôn Vĩ Dạ”
Vẻ đẹp con người trong “Đây thôn Vĩ Dạ”
Vẻ đẹp của tâm hồn thi sĩ
Đánh giá hiệu quả của các tín hiệu thẩm mĩ
trong việc thể hiện vẻ đẹp thiên nhiên và con
người trong “Đây thôn Vĩ Dạ”
Từ ngữ thể
hiện
Nhận xét
2. Bước 2: Tìm ý và lập dàn ý
Lập dàn ý bằng cách dựa vào các ý đã tìm được, sắp
xếp lại theo một trình tự nhất định theo ba phần lớn
của bài văn, gồm:
Mở bài
Thân bài
Kết bài
Mở bài
Giới thiệu ngắn gọn về nhà thơ Hàn
Mặc Tử và bài thơ “Đây thôn Vĩ
Dạ”: Hàn Mặc Tử - một nhà thơ có
sức sáng tạo mạnh mẽ nhất trong
phong trào Thơ mới. Rút từ tập “Thơ
điên”, “Đây thôn Vĩ Dạ” là một bài
thơ ẩn chứa một tình yêu đau đớn
hướng về cuộc đời trần thế của thi sĩ.
* Bức tranh Vĩ Dạ
xinh đẹp, tươi tắn
Thân bài
“Sao anh không về chơi thôn Vĩ”: lời trách nhẹ nhàng, lời mời gọi
tha thiết của người thôn Vĩ
Vẻ đẹp của thôn Vĩ:
Hình ảnh “nắng hàng cau” gợi tả vẻ đẹp của hàng cau khi được
những tia nắng tinh khôi, thanh thiết chiếu rọi.
Động từ “nhìn” được đặt đầu câu càng tô đậm sức cuốn hút của ánh
nắng buổi bình minh.
Đó là một màu nắng trong trẻo, tinh khôi của những tia nắng đầu
tiên vươn mình lên hàng cau xinh đẹp trong vườn nhà.
Thân bài
Nắng thiên nhiên bao phủ lên vườn nhà, cỏ cây được thưởng thức
nắng mới lại càng sinh sôi, căng tràn nhựa sống: “Vườn ai mướt
quá xanh như ngọc”.
Cỏ cây xanh mướt, mỡ màng và bóng bẩy trong nắng, một cảnh
vườn xinh xắn như hiện ra trước mắt người đọc.
Bóng dáng người con gái yêu kiều, kín đáo thấp thoáng hiện ra
sau nhành lá trúc mảnh mai: “Lá trúc che ngang mặt chữ điền.”
Giữa vườn thiên nhiên tươi đẹp, hình ảnh con người càng
thêm nổi bật, tô đậm sự hài hoà giữa cảnh và tình.
* Tâm trạng và
nỗi cầu vọng
của thi nhân
Kết bài
Cảm nhận chung về giá trị bài
thơ: “Đây thôn Vĩ Dạ” là một bài
thơ đẹp. Đẹp bởi bức tranh thiên
nhiên xanh tươi nơi xứ Huế, đẹp
bởi tình người bước ra từ trang
thơ. Có thể nói, bằng một tâm hồn
đầy yêu thương và tài năng trong
ngòi bút, Hàn Mặc Tử đã viết nên
một tuyệt tác bất hủ với thời gian.
3. Bước 3: Viết
Dựa vào dàn ý đã xây dựng để luyện tập kĩ năng viết.
Chú ý:
Bài viết đủ 3 phần
Mỗi ý trong bài cần được triển khai thành một đoạn
văn; từng đoạn văn đều có câu chủ đề, được đặt ở vị trí
thích hợp. Các luận điểm trong phần thân bài phải làm
rõ cho vấn đề nêu ở đề bài.
3. Bước 3: Viết
Các dẫn chứng phải đúng, tiêu biểu và phong phú. Cần
chú ý dẫn các dòng thơ, khổ thơ có thể minh họa tốt cho ý
đã được nêu, kèm theo những lời bình, phân tích phù hợp,
tránh tình trạng nói chung chung thiếu căn cứ.
Cần thể hiện được sự rung động thật sự của mình trước
bài thơ nhưng tránh lối nói đại ngôn hay sử dụng quá
nhiều những câu cảm thán.
Lập luận chặt chẽ, lời văn trong sáng, thể hiện được thái
độ, tình cảm của người viết với vấn đề nghị luận.
4. Bước 4: Kiểm tra, chỉnh sửa, hoàn thiện
- Đọc kĩ bài viết của mình và đối chiếu với các yêu
cầu đã nêu ở các bước để kiểm tra và chỉnh sửa theo
Phiếu chỉnh sửa bài viết
- HS có thể tráo, đổi bài để trong bàn chấm và chữa
cho nhau.
Phiếu chỉnh sửa bài viết
Nội dung Yêu cầu cụ thể
kiểm tra
Bố cục ba - Mở bài:
phần
+ Đã giới thiệu được vấn đề cần nghị luận chưa?
+ Nêu được ấn tượng đặc biệt của bản thân về tác phẩm chưa?
- Thân bài:
Đạt/
Chưa đạt
+ Đã phân tích, đánh giá được các yếu tố trong thơ (từ ngữ, hình ảnh, cách
tổ chức nhạc điệu, cách liên kết mạch cảm xúc và hình ảnh,…)?
- Kết bài:
+ Có giới thiệu về tác giả, tác phẩm không?
+ Có phân tích được tính chất gợi mở của đề bài không?
+ Có phân tích được vẻ đẹp của thiên nhiên và con người không?
Có khái quát được vấn đề, có nêu được giá trị của tác phẩm không?
Các lỗi - Lỗi về ý: thiếu ý, lặp ý, lạc ý
còn mắc - Lỗi về trình bày, chính tả, dùng từ và
diễn đạt
Đánh giá - Bài viết đáp ứng yêu cầu đạt mức độ
chung
nào?
- Em thấy hứng thú hoặc khó khăn nhất
khi thực hiện phần nào trong tiến trình
thực hành viết?
Tham khảo: Vẻ đẹp thiên nhiên và con người trong bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử
“Đây thôn Vĩ Dạ” là một kiệt tác của Hàn Mặc Tử, được sáng tác
vào năm 1938, in lần đầu trong tập “Thơ điên”. Khi viết bài thơ này
Hàn Mặc Tử đang trong giai đoạn bệnh nặng, cả thể xác lẫn tinh thần
bị đau đớn và bệnh tật giằng xé. Nhưng thể hiện qua bài thơ “Đây thôn
Vĩ Dạ” ta chỉ thấy một chất thơ nhẹ nhàng, một hồn thơ khao khát yêu
thương, bệnh tật dường như không thể chạm đến tâm hồn của Hàn
Mặc Tử. Với những hình ảnh biểu hiện nội tâm, hình ảnh gợi tả, ngôn
ngữ tinh tế, giàu liên tưởng, “Đây thôn Vĩ Dạ” vẽ lên một bức tranh
đẹp về một miền quê Việt Nam cũng như qua đó gửi gắm tiếng lòng
tha thiết yêu đời, yêu người của tác giả.
Câu mở đầu: “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?” là một câu hỏi
nhiều sắc thái: vừa hỏi, vừa nhắc nhớ, vừa trách, vừa mời mọc. Giờ
đây chẳng ai còn ấu trĩ gán cho nó là câu hỏi của Hoàng Cúc hay của
một cô gái nào ở thôn Vĩ nữa. Bởi, là đằng này thì vô lí - không đúng
sự thực, là đằng kia thì vô tình- viết để tạ lòng Hoàng Cúc mà lại nghĩ
đến cô khác ư? Vả chăng, đâu chỉ có một câu hỏi này. Toàn bài có tới
ba câu hỏi. Cả ba đều cùng một chủ thể. Trên kia đã phần nào nói đến
việc bài thơ được viết thành ba khổ trên âm điệu chủ đạo của những
câu hỏi buông ra, buột lên, không lời đáp. Thực ra, câu hỏi chỉ là hình
thức bày tỏ.
Nó không đợi trả lời để thành đối thoại. Nó cứ buông
ra thế để thành dòng độc thoại bộc bạch tâm tình. Ngữ điệu
hỏi càng về sau càng khắc khoải hơn, u hoài hơn. Và, nhờ
ngữ điệu nhất quán ấy, mà ba cảnh sắc ở ba khổ thơ vốn đứt
đoạn “cóc nhảy” đã được xâu chuỗi lại tự nhiên khăng khít.
Đó là Tử đang phân thân để tự hỏi chính mình. Hỏi mà như
nhắc đến một việc cần làm, đáng phải làm, mà chẳng biết giờ
đây có còn cơ hội để thực hiện nữa không. Ấy là về lại thôn
Vĩ, thăm lại chốn cũ, cảnh xưa. Ta đều biết tuổi nhỏ Tử đã
từng học trường Pellerin ở Huế, và khi in xong tập “Gái
Quê”.
Tử đã từng đến tìm Hoàng Cúc tại thôn Vĩ mà rồi chỉ nấp
nom ngoài rào trúc chứ không dám vào. Giờ đây, nhận được
bức thiếp phong cảnh này, niềm khát khao đã cất lên thành
lời tự vấn oái oăm vậy. Còn ba câu sau vẽ ra hình tượng
mảnh vườn thôn Vĩ:
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền.
Mỗi câu là một chi tiết vườn. Tất cả đều hoà hợp và ánh lên một
vẻ đẹp thanh tú. Đọc thơ Tử, qua các tập, thấy vườn thực sự là một
môtip ám ảnh. Nào vườn trần, vườn tiên, vườn chiêm bao... Dù mỗi
nơi một khác, nhưng vườn của Tử đều mang chung một diện mạo
mà Tử muốn gọi là “chốn nước non thanh tú”. Phải, thiên nhiên mà
Tử say đắm dứt khoát phải có vẻ đẹp thanh tú! Không thế, Tử khó
mà động bút. Dường như các mảnh vườn kia đã hò hẹn nhau đầu
thai thành mảnh vườn Vĩ Dạ này. Chả thế mà chi tiết nào của nó dù
đơn sơ cũng toát lên vẻ tinh khôi, dù bình dị cũng toát lên vẻ thanh
khiết cao sang. Nghĩa là một “chốn nước non thanh tú” hoàn toàn.
Trong thơ Tử, nắng cũng là môtip ám ảnh. Ta thường gặp
những thứ nắng lạ đầy ấn tượng với những nắng tươi, nắng ửng, nắng
chang chang, nắng loạn...Trong mảnh vườn này, Tử chỉ nói giản dị
“Nắng hàng cau nắng mới lên”, cớ sao mà gợi thế! Có lẽ một câu thơ
hay không chỉ hay bởi những gì nó mang sẵn, mà còn vì những gì nó
có thể gợi ra để người đọc đồng sáng tạo. Ai đã từng sống với cau, dễ
thấy cau là một thứ cây cao, thậm chí ở mảnh vườn nào đó, có thể là
cao nhất. Nó là cây đầu tiên nhận được những tia nắng đầu tiên của
một ngày. Bởi thế mà tinh khôi. Trong đêm, lá cau được tắm gội trên
cao, sắc xanh như mới được hồi sinh trong bóng tối, dưới nắng mai
lại rời rợi thanh tân.
Nắng trên lá cau thành nắng ướt, nắng long lanh, nắng thiếu
nữ. Bởi thế mà thanh khiết. Lại nữa, cau có dáng mảnh dẻ, trong
nắng sớm, bóng đổ xuống vườn, in xuống lối đi những nét mảnh thật
thanh thoát. Thân cau chia thành nhiều đốt đều đặn, khác nào như
một cây thước mà thiên nhiên dựng sẵn trong vườn dùng để đo mực
nắng. Nắng mai rót vào vườn cứ đầy dần lên theo từng đốt, từng đốt.
Đến khi tràn trề thì nó biến cả khu vườn xanh thành viên ngọc lớn...
Chẳng phải câu thơ hay còn phải đánh thức dậy bao ấn tượng vốn
ngủ quên trong kí ức con người? Song, trọng tâm của hình tượng
vườn dường như thuộc về những nét vẽ ở hai câu sau. Mà ấn tượng
nhất là câu thơ có vẻ đẹp long lanh này: “Vườn ai mướt quá xanh như
ngọc”.
Vì nó có sắc “mướt” chăng? vì được sánh với “ngọc” chăng?
Quả là hai chữ ấy đã đập ngay vào trực cảm người đọc. “Mướt” ánh
lên vẻ mượt mà óng ả đầy xuân sắc. Còn “ngọc” là tinh thể trong suốt
nên vừa có màu vừa có ánh. Nhờ đó, vườn thôn Vĩ như một viên ngọc
không chỉ rời rợi sắc xanh, mà còn đang toả vào ban mai cả những
ánh xanh nữa. Thiếu đi những ánh sắc ấy, mảnh vườn đơn sơ bình dị
này khó mà hiện ra vẻ thanh tú cao sang. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng ở
đó không thôi, ta mới chỉ thấy tầng lộ thiên của chữ “ngọc”. Ẩn bên
dưới, vẫn còn tầng trầm tích nữa. Khảo sát phong cách ngôn ngữ Hàn
Mặc Tử, thấy thi sĩ này rất ưa dùng những vật liệu cao sang, nhất là ở
giai đoạn cuối.
Từ “Thơ điên” trở đi, các trang đều tràn ngập những vàng, gấm,
lụa, trân châu, thất bảo, nhũ hương, mộc dược... đặc biệt là ngọc.
“Ngọc” vừa được dùng lối ước lệ cổ điển như tay ngọc, mắt ngọc, đũa
ngọc... vừa được dùng lối trực quan. Mà dù theo lối nào nó cũng là so
sánh ở mức tuyệt đối: “Đức tin thơm hơn ngọc / Thơ bay rồi thơ bay”,
“Xác cô thơm quá thơm hơn ngọc / Cả một mùa xuân đã hiện hình”...
Thi sĩ đang muốn tuyệt đối hoá, tột cùng hoá vẻ đẹp đẽ, quí giá, cao
sang của đối tượng. Nhu cầu tuyệt đối hoá này thường xuất hiện khi
niềm thiết tha với cuộc đời trần thế dâng trào đến mức đau đớn. Càng
đẹp lại càng đau. Cho nên, trong so sánh với “ngọc” luôn thấy chất
chồng một cách oái oăm cả hai tâm thái: cảm giác càng tinh tế, cảm
xúc càng đau thương.
Ở đây cũng thế, “Vườn ai mướt quá xanh như ngọc” chứa đựng
trong đó một cảm nhận về vẻ đẹp ở mức tột bậc và cả niềm thiết tha ở
mức đau thương. Cũng phải thôi, lộng lẫy đến thế, ngay trước mắt
thế, mà đang vuột ra ngoài tầm tay của mình, thì làm sao tránh khỏi
đau thương!
Nhưng, bên cạnh những chữ phô ngay ra vẻ quyến rũ ấy, còn
có những chữ khác, khép nép bên cạnh, khiêm nhường kín đáo thôi,
nhưng dường như lại được Tử yêu tin mà kí thác vào đó những uẩn
khúc của lòng mình. Tôi muốn nói đến chữ “ai”. Nếu cả bài chỉ có
một chữ này thôi thì chưa có gì thật đáng nói.
Bởi chữ “ai” thường mang ý phiếm chỉ hoá, ỡm ờ hoá mà thơ
truyền thống, nhất là ca dao đã khai thác đến nhàm. Đáng nói vì cả bài
có tới bốn chữ “ai” nằm ở cả ba khổ. Chúng gắn với nhau bằng cả sắc
thái lẫn giọng điệu tạo thành một “hệ vi mạch” ẩn sâu trong lòng bài
thơ, chuyển tải một cảm giác se xót - cảm giác về thực tại xa vời:
Vườn ai..., Thuyền ai..., Ai biết tình ai. Thế giới này, cuộc đời này đẹp
đẽ là thế, hiện ngay trước mắt thế, vậy mà đã hoá xa vời, vậy mà đã
thuộc về “Ngoài kia”, thuộc về cõi trần ai kia. Sắc thái phiếm chỉ bỗng
chốc đã làm tất cả như lùi xa, bỗng như diệu vợi hoá, mông lung hoá.
Cũng trong câu này, không thể không dành quan tâm ít nhiều đến chữ
“quá”, bởi hiệu quả nghệ thuật riêng của nó.
Cũng là từ chỉ mức độ, nhưng xem ra chỉ có nó mới đem
đến cho câu thơ âm hưởng của một tiếng kêu ngỡ ngàng,
trầm trồ như chợt nhận ra vẻ đẹp bất ngờ của khu vườn, mà
có lẽ ở khoảnh khắc trước chưa thấy, khoảnh khắc sau cũng
chưa hẳn đã thấy. Ta sẽ còn gặp ở khổ cuối tiếng kêu như
thế nữa - áo em trắng quá nhìn không ra. Nó cũng là tiếng
kêu muốn tuyệt đối hoá vẻ đẹp của đối tượng. Nghĩa là
những tiếng kêu hàm chứa nỗi đau thương.
Trong khổ này, câu thứ tư đã gây nhiều tranh luận: “Lá trúc che
ngang mặt chữ điền”. Gương mặt kia là phụ nữ hay đàn ông? Lối tạo
hình của nó là cách điệu hay tả thực? ý kiến xem ra chưa ngã ngũ. Thực
ra, làm sao lại có một chi tiết cách điệu lạc vào giữa một bức tranh trực
quan thuần tả thực như thế này. Vả chăng, nó diễn tả một khuôn mặt
chữ điền ẩn sau những lá trúc loà xoà kia mà. Có người đã cất công để
chứng minh dứt khoát đấy là gương mặt phụ nữ. Thiết tưởng muốn xác
định là đàn ông hay phụ nữ, trước tiên cần phải trả lời một câu hỏi
khác: đó là mặt người thôn Vĩ hay người trở về thôn Vĩ? Nếu xét thuần
tuý về cú pháp câu thơ, người đọc có quyền hiểu theo cả hai cách.
Nhưng xét trong tương quan với toàn cảnh và trong hệ thống môtip phổ
biến ở thơ Tử, thì có thể loại trừ được cách không phù hợp.
Nếu là người thôn Vĩ (chủ nhân khu vườn), thì hẳn phải là
khuôn mặt phụ nữ. Một người đàn ông về thôn Vĩ chắc không phải để
ngắm khuôn mặt đàn ông! Còn là người trở về thôn Vĩ, thì người ấy
chính là Tử, nói chuẩn hơn là hình tượng của chính Cái Tôi thi sĩ.
Tìm trong thơ Hàn, sẽ thấy đây là lối tạo hình khá phổ biến, và cái
nhân vật nép mình khi thì sau cành lá, khóm lau, khi thì sau rào thưa,
bờ liễu... như thế này thường là hình bóng tự hoạ của Tử. Mà Tử vẫn
có cái “thói” tự vẽ mình một cách rất kiêu hãnh và có phần... vơ vào
nữa (“Người thơ phong vận như thơ ấy”, “Có chàng trai mới in như
ngọc? Gió căng hơi và nhạc lên trời”, “Xin mời chàng tài hoa thi sĩ
đó / Ngồi xuống đây bên thảm ngọc vườn châu”...).
Thực ra, cũng chả riêng gì Tử vơ vào. Nguyễn Bính chân quê
cũng “vơ vào” chả kém khi tự hoạ một cách bóng gió trong một khuôn
hình gần giống thế: “Bóng ai thấp thoáng sau rào trúc / Chẳng Tống
Trân ư cũng Nguyễn Hiền”. Nghĩa là khuôn mặt và hình dáng văn
nhân cả thôi. Tuy nhiên, khuôn mặt chữ điền sau lá trúc, không chỉ là
sản phẩm của “tâm lí vơ vào” dễ thương thế thôi đâu. Sâu xa hơn, nó
còn là sản phẩm của mặc cảm chia lìa. Mặc cảm này thường khiến Tử
vẽ mình trong các trang thơ như một “kẻ đứng ngoài”, “kẻ đi ngang
qua cuộc đời”, kẻ “đứng cách xa hàng thế giới”, là vị “khách xa”, kẻ
đứng ngoài mọi cuộc vui, mọi cảnh đẹp trần thế. Kẻ ấy thường làm
những chuyến trở về với cuộc đời Ngoài kia một cách thầm lén, vụng
trộm.
Tử hình dung mình trở về thôn Vĩ (hay tái hiện lại cái lần mình đã
trở về mà không vào, chỉ nép ngoài rào trúc, thì cũng thế!), vin một cành lá
trúc, che ngang khuôn mặt mình để mà nhìn vào, say ngắm vẻ đẹp thần tiên
của khu vườn. Hiểu thế mới thấy câu thơ kia, hoá ra là sản phẩm nhất quán
của một tình yêu mãnh liệt mà cũng là sản phẩm của một tâm hồn đầy mặc
cảm về thân phận mình. Trong đó chẳng phải giấu kín một niềm uẩn khúc
đáng trân trọng mà cũng thật đáng thương sao? Song, hẳn sẽ có ý thắc mắc
rằng: mạch thơ đang vẽ đối tượng (cảnh nơi thôn Vĩ) sao thoắt lại chuyển
sang vẽ chủ thể (cái tôi thi sĩ), liệu có cóc nhảy, phi lôgic không? Đúng thế.
Nhưng, như bạn biết đấy, cóc nhảy và phi lôgic trên bề mặt chính là một
đặc trưng của mạch liên tưởng “thơ điên”. Sự chuyển kênh đột ngột ấy,
trước sau, vẫn chỉ xoay quanh một niềm thiết tha vô bờ mà cũng đầy uẩn
khúc của Tử mà thôi
Như vậy, trong khổ thơ thứ nhất này, cảnh sắc là thôn Vĩ
mà cũng là “Ngoài kia”, vườn Vĩ Dạ mà cũng là vườn trần
gian. Qua lăng kính của mặc cảm chia lìa, cả những cảnh vật
đơn sơ cũng trở nên vô cùng lộng lẫy. Với Tử đó là thiên
đường trần gian - một thiên đường giờ đây dường như không
thuộc về mình nữa, đang tuột khỏi tầm mình. Về thôn Vĩ vốn
là việc bình thường, với Tử giờ đây lại thành một ước aoước ao quá tầm với, thành một hạnh phúc- hạnh phúc quá
tầm tay.
VIẾT VĂN BẢN NGHỊ LUẬN PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ
MỘT TÁC PHẨM THƠ
LUẬT CHƠI
KHỞI ĐỘNG
Chia lớp thành 4 nhóm tương đương 4 đội
chơi. Trong thời gian 3 phút mỗi đội viết
những từ ngữ thể hiện cảm nhận của mình
về bài thơ “Mùa xuân xanh” lên giấy dán.
Trong khoảng thời gian 1 phút nhóm nào
dán được nhiều từ hơn, các từ có giá trị
biểu cảm cao hơn sẽ giành chiến thắng.
“Mùa
xuân
xanh”
HÌNH THÀNH KIẾN THỨC
I. Tìm hiểu chung về bài văn nghị luận phân tích, đánh giá
một tác phẩm thơ
1. Tìm hiểu bài viết tham khảo SGK:
- Vấn đề chính được bàn luận: Vẻ đẹp của bài thơ Mùa
xuân xanh
- Bài nghị luận giúp người đọc hiểu về các điệu xanh của
bài thơ Mùa xuân xanh thể hiện qua các yếu tố nghệ thuật
của bài thơ
- Tác giả đã triển khai các luận điểm theo trình tự:
+ Giới thiệu chung (nhan đề, tác giả, tác phẩm, định hướng phân
tích)
Phân tích các yếu tố làm nên vẻ đẹp của thơ (Từ ngữ, hình
ảnh, cách tổ chức nhịp điệu, nhạc điệu, các phép tu từ đối,
điệp, cách liên kết mạch cảm xúc và hình ảnh,…)
Mở rộng vấn đề bài viết
Kết luận: tóm lược các ý kiến khẳng định giá trị của bài thơ.
Những
điệu xanh
của mùa
xuân
Phân tích mạch
triển khai hệ
thống hình ảnh
trong bài thơ.
Nêu ấn tượng trước
sự gợi mở của nhan
đề và câu mở đầu
bài thơ.
Liên hệ, so sánh
với thơ truyền
thống để làm rõ
những nét mới mẻ
của bài thơ.
Phân tích phép
đối, phép điệp và
hiệu quả thẩm mĩ
mà các phép tu từ
này gợi ra.
Khẳng định giá trị
thẩm mĩ và giá trị
nhân bản của bài
thơ.
2. Tìm hiểu những đặc điểm của bài văn nghị luận phân tích,
đánh giá một tác phẩm thơ
Bài văn nghị
luận phân tích,
đánh giá một
tác phẩm thơ
không phải là
một bài phát
biểu cảm nhận
đơn thuần.
Kiểu bài viết này
đòi hỏi sự chặt chẽ
trong lập luận, sự
sáng rõ, sắc nét
của luận điểm và
sự mạch lạc trong
tổ chức bài viết.
Bởi vậy, người viết
cần nắm chắc các tri
thức về đặc trưng
thi ca đã được giới
thiệu trong các bài
học và được làm rõ
qua các tiết đọc văn
bản để có những
phân tích, đánh giá
thuyết phục.
3. Các yếu tố chủ yếu của một bài thơ gồm:
+ Mạch cảm xúc của thi nhân được gửi qua những rung động và tình
cảm của nhân vật trữ tình.
+ Các yếu tố về hình thức nghệ thuật: Từ ngữ, hình ảnh, cách tổ chức
nhịp điệu, nhạc điệu, cách liên kết mạch cảm xúc và hình ảnh,…
Ví dụ một số đề bài văn nghị luận phân tích đánh giá một tác phẩm
thơ:
- Vẻ đẹp của mùa thu trong bài thơ Thu hứng
- Phân tích sự độc đáo của những hình ảnh trong thơ hai-cư
- Cảm nhận về mạch liên kết cảm xúc trong bài thơ Mùa xuân chín
4. Yêu cầu đối với bài văn nghị luận phân tích, đánh giá
một tác phẩm thơ
Giới thiệu
ngắn gọn về
bài thơ được
chọn
Chỉ ra và
phân tích
được những
nét đặc sắc,
độc đáo của
bài thơ
Đánh giá giá
trị của bài thơ
về phương
diện nghệ
thuật cũng
như ý nghĩa
nhân sinh.
II. Tìm ý, lập dàn ý bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác
phẩm thơ
1. Cách tìm ý cho bài văn nghị luận phân tích, đánh giá
một tác phẩm thơ
- Đọc lại bài thơ đã lựa chọn. Có thể đọc thầm hoặc đọc
thành tiếng để cảm nhận đầy đủ hơn về âm điệu, nhịp điệu
của nó. Chú ý những cách diễn đạt lạ, có thể lần đầu mình
bắt gặp và những hình ảnh gây ấn tượng. Sau khi đọc, hãy
suy nghĩ vì sao bài thơ lại có những cách tổ chức và kết hợp
ngôn từ đặc biệt như vậy.
- Liên kết âm điệu, nhịp điệu, ngôn ngữ, hình ảnh của bài
thơ và chú ý xem mạch liên kết này có thể đem đến cho
bạn sự bất ngờ nào trong cảm xúc, liên tưởng và nhận
thức.
- Tìm hiểu thêm thông tin về tác giả và hoàn cảnh sáng
tác, chú ý bối cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa, văn học của
bài thơ - có thể giúp hiểu sâu hơn về ngôn ngữ, hình ảnh,
cảm xúc và tư tưởng của bài thơ.
- Khi phân tích nội dung nghệ thuật của bài thơ, chú ý vận
dụng các thao tác so sánh và liên tưởng một cách thích hợp.
(Ví dụ: so sánh từ ngữ mà nhà thơ lựa chọn với những từ ngữ
đồng nghĩa, gần nghĩa, từ đó lý giải vì sao lựa chọn của nhà
thơ có thể được xem là tối ưu.)
- Cần tập trung vào những phương diện hình thức nghệ thuật
và nội dung của bài thơ mà người đọc xem là độc đáo, mới
mẻ, thú vị.
- Khi đánh giá bài thơ, cần chú ý đầy đủ các giá trị
thẩm mĩ và giá trị nhân văn của nó. (Bài thơ gợi cho
bạn những trải nghiệm đặc biệt gì về cảm giác, cảm
xúc, nhận thức? Những trải nghiệm đó có ý nghĩa
như thế nào đối với bạn?)
* Mở bài: Giới thiệu ngắn
gọn về bài thơ (tác giả, thời
điểm ra đời, nơi xuất bản,
đánh giá chung của dư luận,
…) và nêu vấn đề chính sẽ
được tập trung phân tích trong
bài viết.
* Thân bài
Phân
tích,
đánh giá mạch
ý tưởng, cảm
xúc của nhân
vật trữ tình
Phân tích, đánh
giá sự phát triển
của hình tượng
chính và tính độc
đáo của những
phương tiện ngôn
từ đã được sử
dụng
Phân tích, đánh
giá nét hấp dẫn
riêng của bài thơ
so với những
sáng tác khác
cùng đề tài, chủ
đề, thể loại
* Kết bài
Khẳng định giá trị
tư tưởng và giá trị
thẩm mĩ của bài
thơ, ý nghĩa của bài
thơ đối với người
viết bài nghị luận.
III. Thực hành
Đề bài: Vẻ đẹp thiên
nhiên và con người
trong bài thơ “Đây
thôn Vĩ Dạ” của Hàn
Mặc Tử
1. Bước 1: Chuẩn bị viết
Dạng bài: nghị luận đánh giá, phân tích một tác phẩm thơ
Về nội dung: Vẻ đẹp thiên nhiên và con người trong bài
thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử
Về thao tác lập luận: Sử dụng tổng hợp các thao tác lập
luận để triển khai vấn đề nghị luận
Về phạm vi dẫn chứng: Sử dụng ngữ liệu trong tác phẩm
“Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử
1. Bước 1: Chuẩn bị viết
Hệ thống luận điểm triển khai bài viết:
Giới thiệu tác giả, tác phẩm, nhan đề bài thơ
Phân tích, đánh giá sự gợi mở của nhan đề bài thơ
Phân tích, đánh giá mạch cảm xúc của nhà thơ
Phân tích vẻ đẹp thiên nhiên và con người qua những tín hiệu
thẩm mĩ (từ ngữ, cách gieo vần, ngắt nhịp, các biện pháp tu từ,…)
Nét hấp dẫn riêng của bài thơ so với những sáng tác khác cùng đề
tài, chủ để, thể loại (của chính nhà thơ hoặc của những tác giả
khác).
2. Bước 2: Tìm ý và lập dàn ý
PHIẾU TÌM Ý:
Vẻ đẹp thiên nhiên và con người trong bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” của
Hàn Mặc Tử
Các ý cần tìm hiểu
Ý nghĩa nhan đề
Mạch cảm xúc của nhân vật trữ tình
Vẻ đẹp thiên nhiên trong “Đây thôn Vĩ Dạ”
Vẻ đẹp con người trong “Đây thôn Vĩ Dạ”
Vẻ đẹp của tâm hồn thi sĩ
Đánh giá hiệu quả của các tín hiệu thẩm mĩ
trong việc thể hiện vẻ đẹp thiên nhiên và con
người trong “Đây thôn Vĩ Dạ”
Từ ngữ thể
hiện
Nhận xét
2. Bước 2: Tìm ý và lập dàn ý
Lập dàn ý bằng cách dựa vào các ý đã tìm được, sắp
xếp lại theo một trình tự nhất định theo ba phần lớn
của bài văn, gồm:
Mở bài
Thân bài
Kết bài
Mở bài
Giới thiệu ngắn gọn về nhà thơ Hàn
Mặc Tử và bài thơ “Đây thôn Vĩ
Dạ”: Hàn Mặc Tử - một nhà thơ có
sức sáng tạo mạnh mẽ nhất trong
phong trào Thơ mới. Rút từ tập “Thơ
điên”, “Đây thôn Vĩ Dạ” là một bài
thơ ẩn chứa một tình yêu đau đớn
hướng về cuộc đời trần thế của thi sĩ.
* Bức tranh Vĩ Dạ
xinh đẹp, tươi tắn
Thân bài
“Sao anh không về chơi thôn Vĩ”: lời trách nhẹ nhàng, lời mời gọi
tha thiết của người thôn Vĩ
Vẻ đẹp của thôn Vĩ:
Hình ảnh “nắng hàng cau” gợi tả vẻ đẹp của hàng cau khi được
những tia nắng tinh khôi, thanh thiết chiếu rọi.
Động từ “nhìn” được đặt đầu câu càng tô đậm sức cuốn hút của ánh
nắng buổi bình minh.
Đó là một màu nắng trong trẻo, tinh khôi của những tia nắng đầu
tiên vươn mình lên hàng cau xinh đẹp trong vườn nhà.
Thân bài
Nắng thiên nhiên bao phủ lên vườn nhà, cỏ cây được thưởng thức
nắng mới lại càng sinh sôi, căng tràn nhựa sống: “Vườn ai mướt
quá xanh như ngọc”.
Cỏ cây xanh mướt, mỡ màng và bóng bẩy trong nắng, một cảnh
vườn xinh xắn như hiện ra trước mắt người đọc.
Bóng dáng người con gái yêu kiều, kín đáo thấp thoáng hiện ra
sau nhành lá trúc mảnh mai: “Lá trúc che ngang mặt chữ điền.”
Giữa vườn thiên nhiên tươi đẹp, hình ảnh con người càng
thêm nổi bật, tô đậm sự hài hoà giữa cảnh và tình.
* Tâm trạng và
nỗi cầu vọng
của thi nhân
Kết bài
Cảm nhận chung về giá trị bài
thơ: “Đây thôn Vĩ Dạ” là một bài
thơ đẹp. Đẹp bởi bức tranh thiên
nhiên xanh tươi nơi xứ Huế, đẹp
bởi tình người bước ra từ trang
thơ. Có thể nói, bằng một tâm hồn
đầy yêu thương và tài năng trong
ngòi bút, Hàn Mặc Tử đã viết nên
một tuyệt tác bất hủ với thời gian.
3. Bước 3: Viết
Dựa vào dàn ý đã xây dựng để luyện tập kĩ năng viết.
Chú ý:
Bài viết đủ 3 phần
Mỗi ý trong bài cần được triển khai thành một đoạn
văn; từng đoạn văn đều có câu chủ đề, được đặt ở vị trí
thích hợp. Các luận điểm trong phần thân bài phải làm
rõ cho vấn đề nêu ở đề bài.
3. Bước 3: Viết
Các dẫn chứng phải đúng, tiêu biểu và phong phú. Cần
chú ý dẫn các dòng thơ, khổ thơ có thể minh họa tốt cho ý
đã được nêu, kèm theo những lời bình, phân tích phù hợp,
tránh tình trạng nói chung chung thiếu căn cứ.
Cần thể hiện được sự rung động thật sự của mình trước
bài thơ nhưng tránh lối nói đại ngôn hay sử dụng quá
nhiều những câu cảm thán.
Lập luận chặt chẽ, lời văn trong sáng, thể hiện được thái
độ, tình cảm của người viết với vấn đề nghị luận.
4. Bước 4: Kiểm tra, chỉnh sửa, hoàn thiện
- Đọc kĩ bài viết của mình và đối chiếu với các yêu
cầu đã nêu ở các bước để kiểm tra và chỉnh sửa theo
Phiếu chỉnh sửa bài viết
- HS có thể tráo, đổi bài để trong bàn chấm và chữa
cho nhau.
Phiếu chỉnh sửa bài viết
Nội dung Yêu cầu cụ thể
kiểm tra
Bố cục ba - Mở bài:
phần
+ Đã giới thiệu được vấn đề cần nghị luận chưa?
+ Nêu được ấn tượng đặc biệt của bản thân về tác phẩm chưa?
- Thân bài:
Đạt/
Chưa đạt
+ Đã phân tích, đánh giá được các yếu tố trong thơ (từ ngữ, hình ảnh, cách
tổ chức nhạc điệu, cách liên kết mạch cảm xúc và hình ảnh,…)?
- Kết bài:
+ Có giới thiệu về tác giả, tác phẩm không?
+ Có phân tích được tính chất gợi mở của đề bài không?
+ Có phân tích được vẻ đẹp của thiên nhiên và con người không?
Có khái quát được vấn đề, có nêu được giá trị của tác phẩm không?
Các lỗi - Lỗi về ý: thiếu ý, lặp ý, lạc ý
còn mắc - Lỗi về trình bày, chính tả, dùng từ và
diễn đạt
Đánh giá - Bài viết đáp ứng yêu cầu đạt mức độ
chung
nào?
- Em thấy hứng thú hoặc khó khăn nhất
khi thực hiện phần nào trong tiến trình
thực hành viết?
Tham khảo: Vẻ đẹp thiên nhiên và con người trong bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử
“Đây thôn Vĩ Dạ” là một kiệt tác của Hàn Mặc Tử, được sáng tác
vào năm 1938, in lần đầu trong tập “Thơ điên”. Khi viết bài thơ này
Hàn Mặc Tử đang trong giai đoạn bệnh nặng, cả thể xác lẫn tinh thần
bị đau đớn và bệnh tật giằng xé. Nhưng thể hiện qua bài thơ “Đây thôn
Vĩ Dạ” ta chỉ thấy một chất thơ nhẹ nhàng, một hồn thơ khao khát yêu
thương, bệnh tật dường như không thể chạm đến tâm hồn của Hàn
Mặc Tử. Với những hình ảnh biểu hiện nội tâm, hình ảnh gợi tả, ngôn
ngữ tinh tế, giàu liên tưởng, “Đây thôn Vĩ Dạ” vẽ lên một bức tranh
đẹp về một miền quê Việt Nam cũng như qua đó gửi gắm tiếng lòng
tha thiết yêu đời, yêu người của tác giả.
Câu mở đầu: “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?” là một câu hỏi
nhiều sắc thái: vừa hỏi, vừa nhắc nhớ, vừa trách, vừa mời mọc. Giờ
đây chẳng ai còn ấu trĩ gán cho nó là câu hỏi của Hoàng Cúc hay của
một cô gái nào ở thôn Vĩ nữa. Bởi, là đằng này thì vô lí - không đúng
sự thực, là đằng kia thì vô tình- viết để tạ lòng Hoàng Cúc mà lại nghĩ
đến cô khác ư? Vả chăng, đâu chỉ có một câu hỏi này. Toàn bài có tới
ba câu hỏi. Cả ba đều cùng một chủ thể. Trên kia đã phần nào nói đến
việc bài thơ được viết thành ba khổ trên âm điệu chủ đạo của những
câu hỏi buông ra, buột lên, không lời đáp. Thực ra, câu hỏi chỉ là hình
thức bày tỏ.
Nó không đợi trả lời để thành đối thoại. Nó cứ buông
ra thế để thành dòng độc thoại bộc bạch tâm tình. Ngữ điệu
hỏi càng về sau càng khắc khoải hơn, u hoài hơn. Và, nhờ
ngữ điệu nhất quán ấy, mà ba cảnh sắc ở ba khổ thơ vốn đứt
đoạn “cóc nhảy” đã được xâu chuỗi lại tự nhiên khăng khít.
Đó là Tử đang phân thân để tự hỏi chính mình. Hỏi mà như
nhắc đến một việc cần làm, đáng phải làm, mà chẳng biết giờ
đây có còn cơ hội để thực hiện nữa không. Ấy là về lại thôn
Vĩ, thăm lại chốn cũ, cảnh xưa. Ta đều biết tuổi nhỏ Tử đã
từng học trường Pellerin ở Huế, và khi in xong tập “Gái
Quê”.
Tử đã từng đến tìm Hoàng Cúc tại thôn Vĩ mà rồi chỉ nấp
nom ngoài rào trúc chứ không dám vào. Giờ đây, nhận được
bức thiếp phong cảnh này, niềm khát khao đã cất lên thành
lời tự vấn oái oăm vậy. Còn ba câu sau vẽ ra hình tượng
mảnh vườn thôn Vĩ:
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền.
Mỗi câu là một chi tiết vườn. Tất cả đều hoà hợp và ánh lên một
vẻ đẹp thanh tú. Đọc thơ Tử, qua các tập, thấy vườn thực sự là một
môtip ám ảnh. Nào vườn trần, vườn tiên, vườn chiêm bao... Dù mỗi
nơi một khác, nhưng vườn của Tử đều mang chung một diện mạo
mà Tử muốn gọi là “chốn nước non thanh tú”. Phải, thiên nhiên mà
Tử say đắm dứt khoát phải có vẻ đẹp thanh tú! Không thế, Tử khó
mà động bút. Dường như các mảnh vườn kia đã hò hẹn nhau đầu
thai thành mảnh vườn Vĩ Dạ này. Chả thế mà chi tiết nào của nó dù
đơn sơ cũng toát lên vẻ tinh khôi, dù bình dị cũng toát lên vẻ thanh
khiết cao sang. Nghĩa là một “chốn nước non thanh tú” hoàn toàn.
Trong thơ Tử, nắng cũng là môtip ám ảnh. Ta thường gặp
những thứ nắng lạ đầy ấn tượng với những nắng tươi, nắng ửng, nắng
chang chang, nắng loạn...Trong mảnh vườn này, Tử chỉ nói giản dị
“Nắng hàng cau nắng mới lên”, cớ sao mà gợi thế! Có lẽ một câu thơ
hay không chỉ hay bởi những gì nó mang sẵn, mà còn vì những gì nó
có thể gợi ra để người đọc đồng sáng tạo. Ai đã từng sống với cau, dễ
thấy cau là một thứ cây cao, thậm chí ở mảnh vườn nào đó, có thể là
cao nhất. Nó là cây đầu tiên nhận được những tia nắng đầu tiên của
một ngày. Bởi thế mà tinh khôi. Trong đêm, lá cau được tắm gội trên
cao, sắc xanh như mới được hồi sinh trong bóng tối, dưới nắng mai
lại rời rợi thanh tân.
Nắng trên lá cau thành nắng ướt, nắng long lanh, nắng thiếu
nữ. Bởi thế mà thanh khiết. Lại nữa, cau có dáng mảnh dẻ, trong
nắng sớm, bóng đổ xuống vườn, in xuống lối đi những nét mảnh thật
thanh thoát. Thân cau chia thành nhiều đốt đều đặn, khác nào như
một cây thước mà thiên nhiên dựng sẵn trong vườn dùng để đo mực
nắng. Nắng mai rót vào vườn cứ đầy dần lên theo từng đốt, từng đốt.
Đến khi tràn trề thì nó biến cả khu vườn xanh thành viên ngọc lớn...
Chẳng phải câu thơ hay còn phải đánh thức dậy bao ấn tượng vốn
ngủ quên trong kí ức con người? Song, trọng tâm của hình tượng
vườn dường như thuộc về những nét vẽ ở hai câu sau. Mà ấn tượng
nhất là câu thơ có vẻ đẹp long lanh này: “Vườn ai mướt quá xanh như
ngọc”.
Vì nó có sắc “mướt” chăng? vì được sánh với “ngọc” chăng?
Quả là hai chữ ấy đã đập ngay vào trực cảm người đọc. “Mướt” ánh
lên vẻ mượt mà óng ả đầy xuân sắc. Còn “ngọc” là tinh thể trong suốt
nên vừa có màu vừa có ánh. Nhờ đó, vườn thôn Vĩ như một viên ngọc
không chỉ rời rợi sắc xanh, mà còn đang toả vào ban mai cả những
ánh xanh nữa. Thiếu đi những ánh sắc ấy, mảnh vườn đơn sơ bình dị
này khó mà hiện ra vẻ thanh tú cao sang. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng ở
đó không thôi, ta mới chỉ thấy tầng lộ thiên của chữ “ngọc”. Ẩn bên
dưới, vẫn còn tầng trầm tích nữa. Khảo sát phong cách ngôn ngữ Hàn
Mặc Tử, thấy thi sĩ này rất ưa dùng những vật liệu cao sang, nhất là ở
giai đoạn cuối.
Từ “Thơ điên” trở đi, các trang đều tràn ngập những vàng, gấm,
lụa, trân châu, thất bảo, nhũ hương, mộc dược... đặc biệt là ngọc.
“Ngọc” vừa được dùng lối ước lệ cổ điển như tay ngọc, mắt ngọc, đũa
ngọc... vừa được dùng lối trực quan. Mà dù theo lối nào nó cũng là so
sánh ở mức tuyệt đối: “Đức tin thơm hơn ngọc / Thơ bay rồi thơ bay”,
“Xác cô thơm quá thơm hơn ngọc / Cả một mùa xuân đã hiện hình”...
Thi sĩ đang muốn tuyệt đối hoá, tột cùng hoá vẻ đẹp đẽ, quí giá, cao
sang của đối tượng. Nhu cầu tuyệt đối hoá này thường xuất hiện khi
niềm thiết tha với cuộc đời trần thế dâng trào đến mức đau đớn. Càng
đẹp lại càng đau. Cho nên, trong so sánh với “ngọc” luôn thấy chất
chồng một cách oái oăm cả hai tâm thái: cảm giác càng tinh tế, cảm
xúc càng đau thương.
Ở đây cũng thế, “Vườn ai mướt quá xanh như ngọc” chứa đựng
trong đó một cảm nhận về vẻ đẹp ở mức tột bậc và cả niềm thiết tha ở
mức đau thương. Cũng phải thôi, lộng lẫy đến thế, ngay trước mắt
thế, mà đang vuột ra ngoài tầm tay của mình, thì làm sao tránh khỏi
đau thương!
Nhưng, bên cạnh những chữ phô ngay ra vẻ quyến rũ ấy, còn
có những chữ khác, khép nép bên cạnh, khiêm nhường kín đáo thôi,
nhưng dường như lại được Tử yêu tin mà kí thác vào đó những uẩn
khúc của lòng mình. Tôi muốn nói đến chữ “ai”. Nếu cả bài chỉ có
một chữ này thôi thì chưa có gì thật đáng nói.
Bởi chữ “ai” thường mang ý phiếm chỉ hoá, ỡm ờ hoá mà thơ
truyền thống, nhất là ca dao đã khai thác đến nhàm. Đáng nói vì cả bài
có tới bốn chữ “ai” nằm ở cả ba khổ. Chúng gắn với nhau bằng cả sắc
thái lẫn giọng điệu tạo thành một “hệ vi mạch” ẩn sâu trong lòng bài
thơ, chuyển tải một cảm giác se xót - cảm giác về thực tại xa vời:
Vườn ai..., Thuyền ai..., Ai biết tình ai. Thế giới này, cuộc đời này đẹp
đẽ là thế, hiện ngay trước mắt thế, vậy mà đã hoá xa vời, vậy mà đã
thuộc về “Ngoài kia”, thuộc về cõi trần ai kia. Sắc thái phiếm chỉ bỗng
chốc đã làm tất cả như lùi xa, bỗng như diệu vợi hoá, mông lung hoá.
Cũng trong câu này, không thể không dành quan tâm ít nhiều đến chữ
“quá”, bởi hiệu quả nghệ thuật riêng của nó.
Cũng là từ chỉ mức độ, nhưng xem ra chỉ có nó mới đem
đến cho câu thơ âm hưởng của một tiếng kêu ngỡ ngàng,
trầm trồ như chợt nhận ra vẻ đẹp bất ngờ của khu vườn, mà
có lẽ ở khoảnh khắc trước chưa thấy, khoảnh khắc sau cũng
chưa hẳn đã thấy. Ta sẽ còn gặp ở khổ cuối tiếng kêu như
thế nữa - áo em trắng quá nhìn không ra. Nó cũng là tiếng
kêu muốn tuyệt đối hoá vẻ đẹp của đối tượng. Nghĩa là
những tiếng kêu hàm chứa nỗi đau thương.
Trong khổ này, câu thứ tư đã gây nhiều tranh luận: “Lá trúc che
ngang mặt chữ điền”. Gương mặt kia là phụ nữ hay đàn ông? Lối tạo
hình của nó là cách điệu hay tả thực? ý kiến xem ra chưa ngã ngũ. Thực
ra, làm sao lại có một chi tiết cách điệu lạc vào giữa một bức tranh trực
quan thuần tả thực như thế này. Vả chăng, nó diễn tả một khuôn mặt
chữ điền ẩn sau những lá trúc loà xoà kia mà. Có người đã cất công để
chứng minh dứt khoát đấy là gương mặt phụ nữ. Thiết tưởng muốn xác
định là đàn ông hay phụ nữ, trước tiên cần phải trả lời một câu hỏi
khác: đó là mặt người thôn Vĩ hay người trở về thôn Vĩ? Nếu xét thuần
tuý về cú pháp câu thơ, người đọc có quyền hiểu theo cả hai cách.
Nhưng xét trong tương quan với toàn cảnh và trong hệ thống môtip phổ
biến ở thơ Tử, thì có thể loại trừ được cách không phù hợp.
Nếu là người thôn Vĩ (chủ nhân khu vườn), thì hẳn phải là
khuôn mặt phụ nữ. Một người đàn ông về thôn Vĩ chắc không phải để
ngắm khuôn mặt đàn ông! Còn là người trở về thôn Vĩ, thì người ấy
chính là Tử, nói chuẩn hơn là hình tượng của chính Cái Tôi thi sĩ.
Tìm trong thơ Hàn, sẽ thấy đây là lối tạo hình khá phổ biến, và cái
nhân vật nép mình khi thì sau cành lá, khóm lau, khi thì sau rào thưa,
bờ liễu... như thế này thường là hình bóng tự hoạ của Tử. Mà Tử vẫn
có cái “thói” tự vẽ mình một cách rất kiêu hãnh và có phần... vơ vào
nữa (“Người thơ phong vận như thơ ấy”, “Có chàng trai mới in như
ngọc? Gió căng hơi và nhạc lên trời”, “Xin mời chàng tài hoa thi sĩ
đó / Ngồi xuống đây bên thảm ngọc vườn châu”...).
Thực ra, cũng chả riêng gì Tử vơ vào. Nguyễn Bính chân quê
cũng “vơ vào” chả kém khi tự hoạ một cách bóng gió trong một khuôn
hình gần giống thế: “Bóng ai thấp thoáng sau rào trúc / Chẳng Tống
Trân ư cũng Nguyễn Hiền”. Nghĩa là khuôn mặt và hình dáng văn
nhân cả thôi. Tuy nhiên, khuôn mặt chữ điền sau lá trúc, không chỉ là
sản phẩm của “tâm lí vơ vào” dễ thương thế thôi đâu. Sâu xa hơn, nó
còn là sản phẩm của mặc cảm chia lìa. Mặc cảm này thường khiến Tử
vẽ mình trong các trang thơ như một “kẻ đứng ngoài”, “kẻ đi ngang
qua cuộc đời”, kẻ “đứng cách xa hàng thế giới”, là vị “khách xa”, kẻ
đứng ngoài mọi cuộc vui, mọi cảnh đẹp trần thế. Kẻ ấy thường làm
những chuyến trở về với cuộc đời Ngoài kia một cách thầm lén, vụng
trộm.
Tử hình dung mình trở về thôn Vĩ (hay tái hiện lại cái lần mình đã
trở về mà không vào, chỉ nép ngoài rào trúc, thì cũng thế!), vin một cành lá
trúc, che ngang khuôn mặt mình để mà nhìn vào, say ngắm vẻ đẹp thần tiên
của khu vườn. Hiểu thế mới thấy câu thơ kia, hoá ra là sản phẩm nhất quán
của một tình yêu mãnh liệt mà cũng là sản phẩm của một tâm hồn đầy mặc
cảm về thân phận mình. Trong đó chẳng phải giấu kín một niềm uẩn khúc
đáng trân trọng mà cũng thật đáng thương sao? Song, hẳn sẽ có ý thắc mắc
rằng: mạch thơ đang vẽ đối tượng (cảnh nơi thôn Vĩ) sao thoắt lại chuyển
sang vẽ chủ thể (cái tôi thi sĩ), liệu có cóc nhảy, phi lôgic không? Đúng thế.
Nhưng, như bạn biết đấy, cóc nhảy và phi lôgic trên bề mặt chính là một
đặc trưng của mạch liên tưởng “thơ điên”. Sự chuyển kênh đột ngột ấy,
trước sau, vẫn chỉ xoay quanh một niềm thiết tha vô bờ mà cũng đầy uẩn
khúc của Tử mà thôi
Như vậy, trong khổ thơ thứ nhất này, cảnh sắc là thôn Vĩ
mà cũng là “Ngoài kia”, vườn Vĩ Dạ mà cũng là vườn trần
gian. Qua lăng kính của mặc cảm chia lìa, cả những cảnh vật
đơn sơ cũng trở nên vô cùng lộng lẫy. Với Tử đó là thiên
đường trần gian - một thiên đường giờ đây dường như không
thuộc về mình nữa, đang tuột khỏi tầm mình. Về thôn Vĩ vốn
là việc bình thường, với Tử giờ đây lại thành một ước aoước ao quá tầm với, thành một hạnh phúc- hạnh phúc quá
tầm tay.
 





