TRÍCH DẪN TRONG SÁCH

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ HIỆU ỨNG LẬT SÁCH

HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ THƯ VIỆN THPT NGUYỄN THỊ MINH KHAI

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH HAY CỦA THƯ VIỆN

VĂN HỌC - CẢM NHẬN TÁC PHẨM

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    THÔNG BÁO

    LỊCH MƯỢN ĐỌC TẠI THƯ VIỆN

    Ảnh ngẫu nhiên

    BANDOKINHTE.jpg Gioi_han_sinh_thai_xuong_rong.png Gioi_han_sinh_thai_cua_tam.png Gioi_han_sinh_thai_ca_ro_phi.png HB_NHOMNUOC.jpg HB_MDDS.jpg Ban_do_cac_nuoc_Dong_Nam_A.jpg TDMNPB_tunhien.jpg Dctna.jpg Tntna.jpg BANDOTUNHIEN.jpg

    KIẾN THỨC LỊCH SỬ - TỰ HÀO VIỆT NAM

    .💕💕Thư viện không phải là nơi để ghé qua trong vội vã, mà là nơi yên bình ta chọn dừng chân giữa bộn bề cuộc sống. Nơi đây, mỗi cuốn sách đều như một mảnh ghép của thời gian, gói ghém những tri thức và câu chuyện của biết bao thế hệ💕💕

    TRƯỜNG THPT NGUYỄN THỊ MINH KHAI (ĐỨC THỌ) 50 NĂM NIỀM TIN VÀ KHÁT VỌNG

    Vẻ đẹp của thơ ca

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: đỗ công khương
    Ngày gửi: 06h:51' 26-10-2024
    Dung lượng: 18.2 MB
    Số lượt tải: 117
    Số lượt thích: 0 người
    VIẾT
    VIẾT VĂN BẢN NGHỊ LUẬN PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ
    MỘT TÁC PHẨM THƠ

    LUẬT CHƠI

    KHỞI ĐỘNG

    Chia lớp thành 4 nhóm tương đương 4 đội
    chơi. Trong thời gian 3 phút mỗi đội viết
    những từ ngữ thể hiện cảm nhận của mình
    về bài thơ “Mùa xuân xanh” lên giấy dán.
    Trong khoảng thời gian 1 phút nhóm nào
    dán được nhiều từ hơn, các từ có giá trị
    biểu cảm cao hơn sẽ giành chiến thắng.

    “Mùa
    xuân
    xanh”

    HÌNH THÀNH KIẾN THỨC

    I. Tìm hiểu chung về bài văn nghị luận phân tích, đánh giá
    một tác phẩm thơ

    1. Tìm hiểu bài viết tham khảo SGK:
    - Vấn đề chính được bàn luận: Vẻ đẹp của bài thơ Mùa
    xuân xanh
    - Bài nghị luận giúp người đọc hiểu về các điệu xanh của
    bài thơ Mùa xuân xanh thể hiện qua các yếu tố nghệ thuật
    của bài thơ

    - Tác giả đã triển khai các luận điểm theo trình tự:
    + Giới thiệu chung (nhan đề, tác giả, tác phẩm, định hướng phân
    tích)
     Phân tích các yếu tố làm nên vẻ đẹp của thơ (Từ ngữ, hình
    ảnh, cách tổ chức nhịp điệu, nhạc điệu, các phép tu từ đối,
    điệp, cách liên kết mạch cảm xúc và hình ảnh,…)
     Mở rộng vấn đề bài viết
     Kết luận: tóm lược các ý kiến khẳng định giá trị của bài thơ.

    Những
    điệu xanh
    của mùa
    xuân

    Phân tích mạch
    triển khai hệ
    thống hình ảnh
    trong bài thơ.

    Nêu ấn tượng trước
    sự gợi mở của nhan
    đề và câu mở đầu
    bài thơ.

    Liên hệ, so sánh
    với thơ truyền
    thống để làm rõ
    những nét mới mẻ
    của bài thơ.

    Phân tích phép
    đối, phép điệp và
    hiệu quả thẩm mĩ
    mà các phép tu từ
    này gợi ra.

    Khẳng định giá trị
    thẩm mĩ và giá trị
    nhân bản của bài
    thơ.

    2. Tìm hiểu những đặc điểm của bài văn nghị luận phân tích,
    đánh giá một tác phẩm thơ

    Bài văn nghị
    luận phân tích,
    đánh giá một
    tác phẩm thơ
    không phải là
    một bài phát
    biểu cảm nhận
    đơn thuần.

    Kiểu bài viết này
    đòi hỏi sự chặt chẽ
    trong lập luận, sự
    sáng rõ, sắc nét
    của luận điểm và
    sự mạch lạc trong
    tổ chức bài viết.

    Bởi vậy, người viết
    cần nắm chắc các tri
    thức về đặc trưng
    thi ca đã được giới
    thiệu trong các bài
    học và được làm rõ
    qua các tiết đọc văn
    bản để có những
    phân tích, đánh giá
    thuyết phục.

    3. Các yếu tố chủ yếu của một bài thơ gồm:
    + Mạch cảm xúc của thi nhân được gửi qua những rung động và tình
    cảm của nhân vật trữ tình.
    + Các yếu tố về hình thức nghệ thuật: Từ ngữ, hình ảnh, cách tổ chức
    nhịp điệu, nhạc điệu, cách liên kết mạch cảm xúc và hình ảnh,…
    Ví dụ một số đề bài văn nghị luận phân tích đánh giá một tác phẩm
    thơ:
    - Vẻ đẹp của mùa thu trong bài thơ Thu hứng
    - Phân tích sự độc đáo của những hình ảnh trong thơ hai-cư
    - Cảm nhận về mạch liên kết cảm xúc trong bài thơ Mùa xuân chín

    4. Yêu cầu đối với bài văn nghị luận phân tích, đánh giá
    một tác phẩm thơ

    Giới thiệu
    ngắn gọn về
    bài thơ được
    chọn

    Chỉ ra và
    phân tích
    được những
    nét đặc sắc,
    độc đáo của
    bài thơ

    Đánh giá giá
    trị của bài thơ
    về phương
    diện nghệ
    thuật cũng
    như ý nghĩa
    nhân sinh.

    II. Tìm ý, lập dàn ý bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác
    phẩm thơ

    1. Cách tìm ý cho bài văn nghị luận phân tích, đánh giá
    một tác phẩm thơ
    - Đọc lại bài thơ đã lựa chọn. Có thể đọc thầm hoặc đọc
    thành tiếng để cảm nhận đầy đủ hơn về âm điệu, nhịp điệu
    của nó. Chú ý những cách diễn đạt lạ, có thể lần đầu mình
    bắt gặp và những hình ảnh gây ấn tượng. Sau khi đọc, hãy
    suy nghĩ vì sao bài thơ lại có những cách tổ chức và kết hợp
    ngôn từ đặc biệt như vậy.

    - Liên kết âm điệu, nhịp điệu, ngôn ngữ, hình ảnh của bài
    thơ và chú ý xem mạch liên kết này có thể đem đến cho
    bạn sự bất ngờ nào trong cảm xúc, liên tưởng và nhận
    thức.
    - Tìm hiểu thêm thông tin về tác giả và hoàn cảnh sáng
    tác, chú ý bối cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa, văn học của
    bài thơ - có thể giúp hiểu sâu hơn về ngôn ngữ, hình ảnh,
    cảm xúc và tư tưởng của bài thơ.

    - Khi phân tích nội dung nghệ thuật của bài thơ, chú ý vận
    dụng các thao tác so sánh và liên tưởng một cách thích hợp.
    (Ví dụ: so sánh từ ngữ mà nhà thơ lựa chọn với những từ ngữ
    đồng nghĩa, gần nghĩa, từ đó lý giải vì sao lựa chọn của nhà
    thơ có thể được xem là tối ưu.)
    - Cần tập trung vào những phương diện hình thức nghệ thuật
    và nội dung của bài thơ mà người đọc xem là độc đáo, mới
    mẻ, thú vị.

    - Khi đánh giá bài thơ, cần chú ý đầy đủ các giá trị
    thẩm mĩ và giá trị nhân văn của nó. (Bài thơ gợi cho
    bạn những trải nghiệm đặc biệt gì về cảm giác, cảm
    xúc, nhận thức? Những trải nghiệm đó có ý nghĩa
    như thế nào đối với bạn?)

    * Mở bài: Giới thiệu ngắn
    gọn về bài thơ (tác giả, thời
    điểm ra đời, nơi xuất bản,
    đánh giá chung của dư luận,
    …) và nêu vấn đề chính sẽ
    được tập trung phân tích trong
    bài viết.

    * Thân bài

    Phân
    tích,
    đánh giá mạch
    ý tưởng, cảm
    xúc của nhân
    vật trữ tình

    Phân tích, đánh
    giá sự phát triển
    của hình tượng
    chính và tính độc
    đáo của những
    phương tiện ngôn
    từ đã được sử
    dụng

    Phân tích, đánh
    giá nét hấp dẫn
    riêng của bài thơ
    so với những
    sáng tác khác
    cùng đề tài, chủ
    đề, thể loại

    * Kết bài

    Khẳng định giá trị
    tư tưởng và giá trị
    thẩm mĩ của bài
    thơ, ý nghĩa của bài
    thơ đối với người
    viết bài nghị luận.

    III. Thực hành
    Đề bài: Vẻ đẹp thiên
    nhiên và con người
    trong bài thơ “Đây
    thôn Vĩ Dạ” của Hàn
    Mặc Tử

    1. Bước 1: Chuẩn bị viết

    Dạng bài: nghị luận đánh giá, phân tích một tác phẩm thơ
    Về nội dung: Vẻ đẹp thiên nhiên và con người trong bài
    thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử
    Về thao tác lập luận: Sử dụng tổng hợp các thao tác lập
    luận để triển khai vấn đề nghị luận
    Về phạm vi dẫn chứng: Sử dụng ngữ liệu trong tác phẩm
    “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử

    1. Bước 1: Chuẩn bị viết
    Hệ thống luận điểm triển khai bài viết:
     Giới thiệu tác giả, tác phẩm, nhan đề bài thơ
     Phân tích, đánh giá sự gợi mở của nhan đề bài thơ
     Phân tích, đánh giá mạch cảm xúc của nhà thơ
     Phân tích vẻ đẹp thiên nhiên và con người qua những tín hiệu
    thẩm mĩ (từ ngữ, cách gieo vần, ngắt nhịp, các biện pháp tu từ,…)
     Nét hấp dẫn riêng của bài thơ so với những sáng tác khác cùng đề
    tài, chủ để, thể loại (của chính nhà thơ hoặc của những tác giả
    khác).

    2. Bước 2: Tìm ý và lập dàn ý
    PHIẾU TÌM Ý:
    Vẻ đẹp thiên nhiên và con người trong bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” của
    Hàn Mặc Tử
    Các ý cần tìm hiểu
    Ý nghĩa nhan đề
    Mạch cảm xúc của nhân vật trữ tình
    Vẻ đẹp thiên nhiên trong “Đây thôn Vĩ Dạ”
    Vẻ đẹp con người trong “Đây thôn Vĩ Dạ”
    Vẻ đẹp của tâm hồn thi sĩ
    Đánh giá hiệu quả của các tín hiệu thẩm mĩ
    trong việc thể hiện vẻ đẹp thiên nhiên và con
    người trong “Đây thôn Vĩ Dạ”

     
     
     
     
     
     

    Từ ngữ thể
    hiện

    Nhận xét
     
     
     
     
     

    2. Bước 2: Tìm ý và lập dàn ý

    Lập dàn ý bằng cách dựa vào các ý đã tìm được, sắp
    xếp lại theo một trình tự nhất định theo ba phần lớn
    của bài văn, gồm:
    Mở bài
    Thân bài
    Kết bài 

    Mở bài
    Giới thiệu ngắn gọn về nhà thơ Hàn
    Mặc Tử và bài thơ “Đây thôn Vĩ
    Dạ”: Hàn Mặc Tử - một nhà thơ có
    sức sáng tạo mạnh mẽ nhất trong
    phong trào Thơ mới. Rút từ tập “Thơ
    điên”, “Đây thôn Vĩ Dạ” là một bài
    thơ ẩn chứa một tình yêu đau đớn
    hướng về cuộc đời trần thế của thi sĩ. 

    * Bức tranh Vĩ Dạ
    xinh đẹp, tươi tắn

    Thân bài
    “Sao anh không về chơi thôn Vĩ”: lời trách nhẹ nhàng, lời mời gọi
    tha thiết của người thôn Vĩ
    Vẻ đẹp của thôn Vĩ:
    Hình ảnh “nắng hàng cau” gợi tả vẻ đẹp của hàng cau khi được
    những tia nắng tinh khôi, thanh thiết chiếu rọi.
    Động từ “nhìn” được đặt đầu câu càng tô đậm sức cuốn hút của ánh
    nắng buổi bình minh.
    Đó là một màu nắng trong trẻo, tinh khôi của những tia nắng đầu
    tiên vươn mình lên hàng cau xinh đẹp trong vườn nhà.

    Thân bài
    Nắng thiên nhiên bao phủ lên vườn nhà, cỏ cây được thưởng thức
    nắng mới lại càng sinh sôi, căng tràn nhựa sống: “Vườn ai mướt
    quá xanh như ngọc”.
    Cỏ cây xanh mướt, mỡ màng và bóng bẩy trong nắng, một cảnh
    vườn xinh xắn như hiện ra trước mắt người đọc.
    Bóng dáng người con gái yêu kiều, kín đáo thấp thoáng hiện ra
    sau nhành lá trúc mảnh mai: “Lá trúc che ngang mặt chữ điền.”
    Giữa vườn thiên nhiên tươi đẹp, hình ảnh con người càng
    thêm nổi bật, tô đậm sự hài hoà giữa cảnh và tình.

    * Tâm trạng và
    nỗi cầu vọng
    của thi nhân

    Kết bài 
    Cảm nhận chung về giá trị bài
    thơ: “Đây thôn Vĩ Dạ” là một bài
    thơ đẹp. Đẹp bởi bức tranh thiên
    nhiên xanh tươi nơi xứ Huế, đẹp
    bởi tình người bước ra từ trang
    thơ. Có thể nói, bằng một tâm hồn
    đầy yêu thương và tài năng trong
    ngòi bút, Hàn Mặc Tử đã viết nên
    một tuyệt tác bất hủ với thời gian.

    3. Bước 3: Viết
    Dựa vào dàn ý đã xây dựng để luyện tập kĩ năng viết.
    Chú ý:
     Bài viết đủ 3 phần
     Mỗi ý trong bài cần được triển khai thành một đoạn
    văn; từng đoạn văn đều có câu chủ đề, được đặt ở vị trí
    thích hợp. Các luận điểm trong phần thân bài phải làm
    rõ cho vấn đề nêu ở đề bài.

    3. Bước 3: Viết
     Các dẫn chứng phải đúng, tiêu biểu và phong phú. Cần
    chú ý dẫn các dòng thơ, khổ thơ có thể minh họa tốt cho ý
    đã được nêu, kèm theo những lời bình, phân tích phù hợp,
    tránh tình trạng nói chung chung thiếu căn cứ.
      Cần thể hiện được sự rung động thật sự của mình trước
    bài thơ nhưng tránh lối nói đại ngôn hay sử dụng quá
    nhiều những câu cảm thán.
      Lập luận chặt chẽ, lời văn trong sáng, thể hiện được thái
    độ, tình cảm của người viết với vấn đề nghị luận.

    4. Bước 4: Kiểm tra, chỉnh sửa, hoàn thiện

    - Đọc kĩ bài viết của mình và đối chiếu với các yêu
    cầu đã nêu ở các bước để kiểm tra và chỉnh sửa theo
    Phiếu chỉnh sửa bài viết
    - HS có thể tráo, đổi bài để trong bàn chấm và chữa
    cho nhau.

    Phiếu chỉnh sửa bài viết
    Nội dung Yêu cầu cụ thể
    kiểm tra
    Bố cục ba - Mở bài:
    phần
    + Đã giới thiệu được vấn đề cần nghị luận chưa?
    + Nêu được ấn tượng đặc biệt của bản thân về tác phẩm chưa?
    - Thân bài:

    Đạt/
    Chưa đạt
     
     

     

     

    + Đã phân tích, đánh giá được các yếu tố trong thơ (từ ngữ, hình ảnh, cách
    tổ chức nhạc điệu, cách liên kết mạch cảm xúc và hình ảnh,…)?
    - Kết bài:
     

     

    + Có giới thiệu về tác giả, tác phẩm không?
    + Có phân tích được tính chất gợi mở của đề bài không?
    + Có phân tích được vẻ đẹp của thiên nhiên và con người không?

    Có khái quát được vấn đề, có nêu được giá trị của tác phẩm không?

    Các lỗi - Lỗi về ý: thiếu ý, lặp ý, lạc ý
     
    còn mắc - Lỗi về trình bày, chính tả, dùng từ và
    diễn đạt
    Đánh giá - Bài viết đáp ứng yêu cầu đạt mức độ  
    chung
    nào?
    - Em thấy hứng thú hoặc khó khăn nhất
    khi thực hiện phần nào trong tiến trình
    thực hành viết?
     

     

     

    Tham khảo: Vẻ đẹp thiên nhiên và con người trong bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử

    “Đây thôn Vĩ Dạ” là một kiệt tác của Hàn Mặc Tử, được sáng tác
    vào năm 1938, in lần đầu trong tập “Thơ điên”. Khi viết bài thơ này
    Hàn Mặc Tử đang trong giai đoạn bệnh nặng, cả thể xác lẫn tinh thần
    bị đau đớn và bệnh tật giằng xé. Nhưng thể hiện qua bài thơ “Đây thôn
    Vĩ Dạ” ta chỉ thấy một chất thơ nhẹ nhàng, một hồn thơ khao khát yêu
    thương, bệnh tật dường như không thể chạm đến tâm hồn của Hàn
    Mặc Tử. Với những hình ảnh biểu hiện nội tâm, hình ảnh gợi tả, ngôn
    ngữ tinh tế, giàu liên tưởng, “Đây thôn Vĩ Dạ” vẽ lên một bức tranh
    đẹp về một miền quê Việt Nam cũng như qua đó gửi gắm tiếng lòng
    tha thiết yêu đời, yêu người của tác giả.

    Câu mở đầu: “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?” là một câu hỏi
    nhiều sắc thái: vừa hỏi, vừa nhắc nhớ, vừa trách, vừa mời mọc. Giờ
    đây chẳng ai còn ấu trĩ gán cho nó là câu hỏi của Hoàng Cúc hay của
    một cô gái nào ở thôn Vĩ nữa. Bởi, là đằng này thì vô lí - không đúng
    sự thực, là đằng kia thì vô tình- viết để tạ lòng Hoàng Cúc mà lại nghĩ
    đến cô khác ư? Vả chăng, đâu chỉ có một câu hỏi này. Toàn bài có tới
    ba câu hỏi. Cả ba đều cùng một chủ thể. Trên kia đã phần nào nói đến
    việc bài thơ được viết thành ba khổ trên âm điệu chủ đạo của những
    câu hỏi buông ra, buột lên, không lời đáp. Thực ra, câu hỏi chỉ là hình
    thức bày tỏ.

    Nó không đợi trả lời để thành đối thoại. Nó cứ buông
    ra thế để thành dòng độc thoại bộc bạch tâm tình. Ngữ điệu
    hỏi càng về sau càng khắc khoải hơn, u hoài hơn. Và, nhờ
    ngữ điệu nhất quán ấy, mà ba cảnh sắc ở ba khổ thơ vốn đứt
    đoạn “cóc nhảy” đã được xâu chuỗi lại tự nhiên khăng khít.
    Đó là Tử đang phân thân để tự hỏi chính mình. Hỏi mà như
    nhắc đến một việc cần làm, đáng phải làm, mà chẳng biết giờ
    đây có còn cơ hội để thực hiện nữa không. Ấy là về lại thôn
    Vĩ, thăm lại chốn cũ, cảnh xưa. Ta đều biết tuổi nhỏ Tử đã
    từng học trường Pellerin ở Huế, và khi in xong tập “Gái
    Quê”.

    Tử đã từng đến tìm Hoàng Cúc tại thôn Vĩ mà rồi chỉ nấp
    nom ngoài rào trúc chứ không dám vào. Giờ đây, nhận được
    bức thiếp phong cảnh này, niềm khát khao đã cất lên thành
    lời tự vấn oái oăm vậy. Còn ba câu sau vẽ ra hình tượng
    mảnh vườn thôn Vĩ:
    Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
    Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
    Lá trúc che ngang mặt chữ điền.

    Mỗi câu là một chi tiết vườn. Tất cả đều hoà hợp và ánh lên một
    vẻ đẹp thanh tú. Đọc thơ Tử, qua các tập, thấy vườn thực sự là một
    môtip ám ảnh. Nào vườn trần, vườn tiên, vườn chiêm bao... Dù mỗi
    nơi một khác, nhưng vườn của Tử đều mang chung một diện mạo
    mà Tử muốn gọi là “chốn nước non thanh tú”. Phải, thiên nhiên mà
    Tử say đắm dứt khoát phải có vẻ đẹp thanh tú! Không thế, Tử khó
    mà động bút. Dường như các mảnh vườn kia đã hò hẹn nhau đầu
    thai thành mảnh vườn Vĩ Dạ này. Chả thế mà chi tiết nào của nó dù
    đơn sơ cũng toát lên vẻ tinh khôi, dù bình dị cũng toát lên vẻ thanh
    khiết cao sang. Nghĩa là một “chốn nước non thanh tú” hoàn toàn.

    Trong thơ Tử, nắng cũng là môtip ám ảnh. Ta thường gặp
    những thứ nắng lạ đầy ấn tượng với những nắng tươi, nắng ửng, nắng
    chang chang, nắng loạn...Trong mảnh vườn này, Tử chỉ nói giản dị
    “Nắng hàng cau nắng mới lên”, cớ sao mà gợi thế! Có lẽ một câu thơ
    hay không chỉ hay bởi những gì nó mang sẵn, mà còn vì những gì nó
    có thể gợi ra để người đọc đồng sáng tạo. Ai đã từng sống với cau, dễ
    thấy cau là một thứ cây cao, thậm chí ở mảnh vườn nào đó, có thể là
    cao nhất. Nó là cây đầu tiên nhận được những tia nắng đầu tiên của
    một ngày. Bởi thế mà tinh khôi. Trong đêm, lá cau được tắm gội trên
    cao, sắc xanh như mới được hồi sinh trong bóng tối, dưới nắng mai
    lại rời rợi thanh tân.

    Nắng trên lá cau thành nắng ướt, nắng long lanh, nắng thiếu
    nữ. Bởi thế mà thanh khiết. Lại nữa, cau có dáng mảnh dẻ, trong
    nắng sớm, bóng đổ xuống vườn, in xuống lối đi những nét mảnh thật
    thanh thoát. Thân cau chia thành nhiều đốt đều đặn, khác nào như
    một cây thước mà thiên nhiên dựng sẵn trong vườn dùng để đo mực
    nắng. Nắng mai rót vào vườn cứ đầy dần lên theo từng đốt, từng đốt.
    Đến khi tràn trề thì nó biến cả khu vườn xanh thành viên ngọc lớn...
    Chẳng phải câu thơ hay còn phải đánh thức dậy bao ấn tượng vốn
    ngủ quên trong kí ức con người? Song, trọng tâm của hình tượng
    vườn dường như thuộc về những nét vẽ ở hai câu sau. Mà ấn tượng
    nhất là câu thơ có vẻ đẹp long lanh này: “Vườn ai mướt quá xanh như
    ngọc”.

    Vì nó có sắc “mướt” chăng? vì được sánh với “ngọc” chăng?
    Quả là hai chữ ấy đã đập ngay vào trực cảm người đọc. “Mướt” ánh
    lên vẻ mượt mà óng ả đầy xuân sắc. Còn “ngọc” là tinh thể trong suốt
    nên vừa có màu vừa có ánh. Nhờ đó, vườn thôn Vĩ như một viên ngọc
    không chỉ rời rợi sắc xanh, mà còn đang toả vào ban mai cả những
    ánh xanh nữa. Thiếu đi những ánh sắc ấy, mảnh vườn đơn sơ bình dị
    này khó mà hiện ra vẻ thanh tú cao sang. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng ở
    đó không thôi, ta mới chỉ thấy tầng lộ thiên của chữ “ngọc”. Ẩn bên
    dưới, vẫn còn tầng trầm tích nữa. Khảo sát phong cách ngôn ngữ Hàn
    Mặc Tử, thấy thi sĩ này rất ưa dùng những vật liệu cao sang, nhất là ở
    giai đoạn cuối.

    Từ “Thơ điên” trở đi, các trang đều tràn ngập những vàng, gấm,
    lụa, trân châu, thất bảo, nhũ hương, mộc dược... đặc biệt là ngọc.
    “Ngọc” vừa được dùng lối ước lệ cổ điển như tay ngọc, mắt ngọc, đũa
    ngọc... vừa được dùng lối trực quan. Mà dù theo lối nào nó cũng là so
    sánh ở mức tuyệt đối: “Đức tin thơm hơn ngọc / Thơ bay rồi thơ bay”,
    “Xác cô thơm quá thơm hơn ngọc / Cả một mùa xuân đã hiện hình”...
    Thi sĩ đang muốn tuyệt đối hoá, tột cùng hoá vẻ đẹp đẽ, quí giá, cao
    sang của đối tượng. Nhu cầu tuyệt đối hoá này thường xuất hiện khi
    niềm thiết tha với cuộc đời trần thế dâng trào đến mức đau đớn. Càng
    đẹp lại càng đau. Cho nên, trong so sánh với “ngọc” luôn thấy chất
    chồng một cách oái oăm cả hai tâm thái: cảm giác càng tinh tế, cảm
    xúc càng đau thương.

    Ở đây cũng thế, “Vườn ai mướt quá xanh như ngọc” chứa đựng
    trong đó một cảm nhận về vẻ đẹp ở mức tột bậc và cả niềm thiết tha ở
    mức đau thương. Cũng phải thôi, lộng lẫy đến thế, ngay trước mắt
    thế, mà đang vuột ra ngoài tầm tay của mình, thì làm sao tránh khỏi
    đau thương!
    Nhưng, bên cạnh những chữ phô ngay ra vẻ quyến rũ ấy, còn
    có những chữ khác, khép nép bên cạnh, khiêm nhường kín đáo thôi,
    nhưng dường như lại được Tử yêu tin mà kí thác vào đó những uẩn
    khúc của lòng mình. Tôi muốn nói đến chữ “ai”. Nếu cả bài chỉ có
    một chữ này thôi thì chưa có gì thật đáng nói.

    Bởi chữ “ai” thường mang ý phiếm chỉ hoá, ỡm ờ hoá mà thơ
    truyền thống, nhất là ca dao đã khai thác đến nhàm. Đáng nói vì cả bài
    có tới bốn chữ “ai” nằm ở cả ba khổ. Chúng gắn với nhau bằng cả sắc
    thái lẫn giọng điệu tạo thành một “hệ vi mạch” ẩn sâu trong lòng bài
    thơ, chuyển tải một cảm giác se xót - cảm giác về thực tại xa vời:
    Vườn ai..., Thuyền ai..., Ai biết tình ai. Thế giới này, cuộc đời này đẹp
    đẽ là thế, hiện ngay trước mắt thế, vậy mà đã hoá xa vời, vậy mà đã
    thuộc về “Ngoài kia”, thuộc về cõi trần ai kia. Sắc thái phiếm chỉ bỗng
    chốc đã làm tất cả như lùi xa, bỗng như diệu vợi hoá, mông lung hoá.
    Cũng trong câu này, không thể không dành quan tâm ít nhiều đến chữ
    “quá”, bởi hiệu quả nghệ thuật riêng của nó.

    Cũng là từ chỉ mức độ, nhưng xem ra chỉ có nó mới đem
    đến cho câu thơ âm hưởng của một tiếng kêu ngỡ ngàng,
    trầm trồ như chợt nhận ra vẻ đẹp bất ngờ của khu vườn, mà
    có lẽ ở khoảnh khắc trước chưa thấy, khoảnh khắc sau cũng
    chưa hẳn đã thấy. Ta sẽ còn gặp ở khổ cuối tiếng kêu như
    thế nữa - áo em trắng quá nhìn không ra. Nó cũng là tiếng
    kêu muốn tuyệt đối hoá vẻ đẹp của đối tượng. Nghĩa là
    những tiếng kêu hàm chứa nỗi đau thương.

    Trong khổ này, câu thứ tư đã gây nhiều tranh luận: “Lá trúc che
    ngang mặt chữ điền”. Gương mặt kia là phụ nữ hay đàn ông? Lối tạo
    hình của nó là cách điệu hay tả thực? ý kiến xem ra chưa ngã ngũ. Thực
    ra, làm sao lại có một chi tiết cách điệu lạc vào giữa một bức tranh trực
    quan thuần tả thực như thế này. Vả chăng, nó diễn tả một khuôn mặt
    chữ điền ẩn sau những lá trúc loà xoà kia mà. Có người đã cất công để
    chứng minh dứt khoát đấy là gương mặt phụ nữ. Thiết tưởng muốn xác
    định là đàn ông hay phụ nữ, trước tiên cần phải trả lời một câu hỏi
    khác: đó là mặt người thôn Vĩ hay người trở về thôn Vĩ? Nếu xét thuần
    tuý về cú pháp câu thơ, người đọc có quyền hiểu theo cả hai cách.
    Nhưng xét trong tương quan với toàn cảnh và trong hệ thống môtip phổ
    biến ở thơ Tử, thì có thể loại trừ được cách không phù hợp.

    Nếu là người thôn Vĩ (chủ nhân khu vườn), thì hẳn phải là
    khuôn mặt phụ nữ. Một người đàn ông về thôn Vĩ chắc không phải để
    ngắm khuôn mặt đàn ông! Còn là người trở về thôn Vĩ, thì người ấy
    chính là Tử, nói chuẩn hơn là hình tượng của chính Cái Tôi thi sĩ.
    Tìm trong thơ Hàn, sẽ thấy đây là lối tạo hình khá phổ biến, và cái
    nhân vật nép mình khi thì sau cành lá, khóm lau, khi thì sau rào thưa,
    bờ liễu... như thế này thường là hình bóng tự hoạ của Tử. Mà Tử vẫn
    có cái “thói” tự vẽ mình một cách rất kiêu hãnh và có phần... vơ vào
    nữa (“Người thơ phong vận như thơ ấy”, “Có chàng trai mới in như
    ngọc? Gió căng hơi và nhạc lên trời”, “Xin mời chàng tài hoa thi sĩ
    đó / Ngồi xuống đây bên thảm ngọc vườn châu”...).

    Thực ra, cũng chả riêng gì Tử vơ vào. Nguyễn Bính chân quê
    cũng “vơ vào” chả kém khi tự hoạ một cách bóng gió trong một khuôn
    hình gần giống thế: “Bóng ai thấp thoáng sau rào trúc / Chẳng Tống
    Trân ư cũng Nguyễn Hiền”. Nghĩa là khuôn mặt và hình dáng văn
    nhân cả thôi. Tuy nhiên, khuôn mặt chữ điền sau lá trúc, không chỉ là
    sản phẩm của “tâm lí vơ vào” dễ thương thế thôi đâu. Sâu xa hơn, nó
    còn là sản phẩm của mặc cảm chia lìa. Mặc cảm này thường khiến Tử
    vẽ mình trong các trang thơ như một “kẻ đứng ngoài”, “kẻ đi ngang
    qua cuộc đời”, kẻ “đứng cách xa hàng thế giới”, là vị “khách xa”, kẻ
    đứng ngoài mọi cuộc vui, mọi cảnh đẹp trần thế. Kẻ ấy thường làm
    những chuyến trở về với cuộc đời Ngoài kia một cách thầm lén, vụng
    trộm.

    Tử hình dung mình trở về thôn Vĩ (hay tái hiện lại cái lần mình đã
    trở về mà không vào, chỉ nép ngoài rào trúc, thì cũng thế!), vin một cành lá
    trúc, che ngang khuôn mặt mình để mà nhìn vào, say ngắm vẻ đẹp thần tiên
    của khu vườn. Hiểu thế mới thấy câu thơ kia, hoá ra là sản phẩm nhất quán
    của một tình yêu mãnh liệt mà cũng là sản phẩm của một tâm hồn đầy mặc
    cảm về thân phận mình. Trong đó chẳng phải giấu kín một niềm uẩn khúc
    đáng trân trọng mà cũng thật đáng thương sao? Song, hẳn sẽ có ý thắc mắc
    rằng: mạch thơ đang vẽ đối tượng (cảnh nơi thôn Vĩ) sao thoắt lại chuyển
    sang vẽ chủ thể (cái tôi thi sĩ), liệu có cóc nhảy, phi lôgic không? Đúng thế.
    Nhưng, như bạn biết đấy, cóc nhảy và phi lôgic trên bề mặt chính là một
    đặc trưng của mạch liên tưởng “thơ điên”. Sự chuyển kênh đột ngột ấy,
    trước sau, vẫn chỉ xoay quanh một niềm thiết tha vô bờ mà cũng đầy uẩn
    khúc của Tử mà thôi

    Như vậy, trong khổ thơ thứ nhất này, cảnh sắc là thôn Vĩ
    mà cũng là “Ngoài kia”, vườn Vĩ Dạ mà cũng là vườn trần
    gian. Qua lăng kính của mặc cảm chia lìa, cả những cảnh vật
    đơn sơ cũng trở nên vô cùng lộng lẫy. Với Tử đó là thiên
    đường trần gian - một thiên đường giờ đây dường như không
    thuộc về mình nữa, đang tuột khỏi tầm mình. Về thôn Vĩ vốn
    là việc bình thường, với Tử giờ đây lại thành một ước aoước ao quá tầm với, thành một hạnh phúc- hạnh phúc quá
    tầm tay.
     
    Gửi ý kiến

    Việc đọc rất quan trọng. Nếu bạn biết cách đọc, cả thế giới sẽ mở ra cho bạn. (Barack Obama)

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG THPT NGUYỄN THỊ MINH KHAI - ĐỨC THỌ - HÀ TĨNH !