TRƯỜNG THPT NGUYỄN THỊ MINH KHAI (ĐỨC THỌ) 50 NĂM NIỀM TIN VÀ KHÁT VỌNG
Lịch sử chữ Quốc Ngữ

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 17h:39' 07-04-2024
Dung lượng: 2.7 MB
Số lượt tải: 6
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 17h:39' 07-04-2024
Dung lượng: 2.7 MB
Số lượt tải: 6
Số lượt thích:
0 người
https://thuviensach.vn
Tên sách : LỊCH SỬ CHỮ QUỐC NGỮ 1620-1659
Tác giả : ĐỖ QUANG CHÍNH, SJ.
Nhà xuất bản : ANTÔN & ĐUỐC SÁNG, SAIGON
Năm xuất bản : 1972
IN LẠI NGUYÊN VĂN THEO ẤN BẢN
CỦA TỦ SÁCH RA KHƠI
CÓ SỬA CHỮA CỦA TÁC GlẢ
-----------------------Nguồn sách : Diễn đàn TVE-4U
Đánh máy : Nhóm đánh máy trên wiki TVE-4U
Kiểm tra chính tả : Fish, ngankhanh.tran, dtpmai189, hero229, Ducko,
suongdem, hiếuvânhưng, Song+SS, Thư Võ
Biên tập ebook : Thư Võ
Ngày hoàn thành : 13/11/2017
https://thuviensach.vn
Ebook này được thực hiện theo dự án phi lợi nhuận « SỐ HÓA 1000
QUYỂN SÁCH VIỆT MỘT THỜI VANG BÓNG » của diễn đàn TVE4U.ORG
Cảm ơn tác giả ĐỖ QUANG CHÍNH, SJ. đã chia sẻ kiến thức đến
người đọc
https://thuviensach.vn
Ghi Chú của nhóm làm Ebook :
- Nhóm làm ebook sao y bản chính bằng hình ảnh những đoạn văn có ký tự
đặc biệt mà do giới hạn của font chữ và bàn phím máy vi tính không thể
sao chép như nguyên mẫu. Mong bạn đọc thông cảm.
- Nhóm làm ebook cũng sao y bản chính những đoạn cổ văn tiếng Pháp, Ý,
La tinh, Bồ Đào Nha của thế kỷ 17, mà có vài sự khác biệt trong cách viết
so với cách ngày nay, ví dụ việc sử dụng ký tự ES thay vì Ê, ES thay vì É,
I thay vì J, Ï thay vì Y, Y thay vì I, U thay vì V (và ngược lại), Z thay vì S,
OIT thay vì AIT, jusques à thay vì jusqu'à... Những cách viết này cũng
được các tác giả (Linh mục) dùng khi Latinh hoá tiếng Việt, ví dụ : « Tau
rữa mầï nhần danh Cha, uà con, uà spirito santo » và « Vô danh, Cắt ma,
Cắt xác, Blai có ba hồn bãÿ uía, Chúa blòÿ ba ngôy nhấn danh ».
Ví dụ vài đoạn cổ văn nước ngoài điển hình được trích dẫn trong sách :
Chú thích 3 :
« Pour moy je vous adoüe que quand je fus arriué à la Cochinchine et que
j'entendois parler les naturels du païs
particulierement les femmes ; il me
sembloit d'entendre gasoüiller des oyseaux, et je perdois
l'esperance de
la pouuoir jamais aprendre » (RHODES, Divers voyages et missions du P.
Alexandre de Rhodes en Chine, et autre Royaumes de l'Orient, Paris, 1653,
tr. 72).
Chú thích 115 :
RHODES, Histoire dv
Royavme de Tvnquin, et des grands progrez
qve la
predication de l'Evangile y a faits en la conuersion des Infidelles. Depuis
l'Année 1627 jusques à l'Année 1646. Composée en latin par le R.P.
Alexandre de Rhodes, de la Compagnie de Jésvs Et tradvite en françois
par le R.P. Henry Albi, de la mesme Compagnie.
Chú thích 148 :
https://thuviensach.vn
Delle Missioni de, « Padri della Compagnia di Giesv nella Prouincia del
Giappone, e particolarmente di quella di Tumkino Libri cinqve. Del P. Gio
: Filippo de Marini della medesima Compagnia. Alla Santita di N.S.
Alessandro PP. Settimo, Roma, 1663.
Chú thích 182
:
« Celuy qui m'ayda
merueilleusement fut vn petit garçon du pais qui
m'enseigna dans trois semaines, tous les diuers tons de cette langue, et la
façon de prononcer tous les mots, il n'entendoit point ma langue ; ny
moy
la sienne, mais il auoit
vn si bel esprit, qu'il comprenoit incontinent tout
ce que je voulois dire, et en effect en ces mesmes trois semaines il apprit à
lire nos lettres, à escrire, et à seruir la Messe, j'estois
estonné de voir la
promptitude de cét esprit, et la fermeté de sa memoire » (RHODES, Divers
voyages et missions, tr. 73).
Sách tham khảo :
Dictionarivm
annamiticvm, Lvsitanvm, et latinvm, ope Sacrae
Congregationis de Progaganda Fide in Lvcem
editvm ab Alexandro de
Rhodes è Societate Iesv, ejusdemque Sacrae Congregationis Missionario
Apostolico, Roma, 1651, in-4°.
(Tham khảo về những cách viết trên qua tác phẩm La science vniverselle où
la vraye philosophie plus estenduë que la vulgaire et reduite en vn ordre
naturel, selon la plus certaine liaison des sciences particulieres & des arts,
Charles Sorel, chez Tovssianct Qvinet,1647).
https://thuviensach.vn
MỤC LỤC
VIẾT TẮT
LỜI GIỚI THIỆU
LỜI TỰA
LỊCH SỬ CHỮ QUỐC NGỮ
1. NHẬN XÉT CỦA MỘT SỐ NGƯỜI TÂY PHƯƠNG VỀ TIẾNG
VIỆT
THANH TIẾNG VIỆT
NGỮ PHÁP TIẾNG VIỆT
2. SƠ LƯỢC GIAI ĐOẠN HÌNH THÀNH CHỮ QUỐC NGỮ (16201648)
GIAI ĐOẠN MỘT : 1620-1626
Tài liệu viết tay năm 1621 của João Roiz
Tài liệu viết tay năm 1621 của Gaspar Luis
Tài liệu năm 1621 của Cristoforo Borri
Tài liệu viết tay năm 1625 của Đắc Lộ
Tài liệu viết tay năm 1626 của Gaspar Luis
Tài liệu viết tay năm 1626 của Antonio de Fontes
Tài liệu viết tay năm 1626 của Francesco Buzomi
GIAI ĐOẠN HAI : 1631-1648
Tài liệu viết tay của Đắc Lộ từ 1631-1647
Thư của Đắc Lộ viết tháng 1-1631
Tài liệu của Đắc Lộ viết vào tháng 5-1631
Tài liệu của Đắc Lộ viết năm 1636
Tài liệu của Đắc Lộ viết năm 1644
https://thuviensach.vn
Tài liệu của Đắc Lộ viết năm 1647
Tài liệu viết tay của Gaspar d'Amaral năm 1632 và 1637
Tài liệu của Gaspar d'Amaral viết năm 1632
Tài liệu của Gaspar d'Amaral viết năm 1637
Tài liệu viết tay năm 1645 và 1648
Tài liệu viết tay năm 1645
Tài liệu viết tay năm 1648
3. LINH MỤC ĐẮC LỘ SOẠN THẢO VÀ CHO XUẤT BẢN HAI
SÁCH CHỮ QUỐC NGỮ ĐẦU TIÊN NĂM 1651
ĐẮC LỘ HỌC TIẾNG VỆT
ĐẮC LỘ CHO XUẤT BẢN HAI SÁCH QUỐC NGỮ
Thời gian soạn thảo, hình thức và nội dung
Cuốn Dictionarium
Cuốn Cathechismus
Công cuộc xuất bản
4. TÀI LIỆU VIẾT TAY NĂM 1659 CỦA HAI NGƯỜI VIỆT NAM
TÀI LIỆU VIẾT TAY NĂM 1659 CỦA IGESICO VĂN TÍN
TÀI LIỆU VIẾT TAY NĂM 1659 CỦA BENTO THIỆN
TẬP « LỊCH SỬ NƯỚC ANNAM » VIẾT TAY NĂM 1659 CỦA
BENTO THIỆN
LỜI KẾT
NGUYÊN BẢN TÀI LIỆU VIẾT TAY
TÀI LIỆU THAM KHẢO
https://thuviensach.vn
ĐỖ QUANG CHÍNH, SJ.
LỊCH SỬ CHỮ QUỐC NGỮ
1620-1659
IN LẠI NGUYÊN VĂN THEO ẤN BẢN
CỦA TỦ SÁCH RA KHƠI - SAIGON 1972
CÓ SỬA CHỮA CỦA TÁC GlẢ
ANTÔN & ĐUỐC SÁNG
https://thuviensach.vn
COPYRIGHT 2007 BY ANTÔN & ĐUỐC SÁNG
PUBLISHED BY ANTÔN & ĐUỐC SÁNG
NGHĨA & PHƯƠNG
11475 STILL HOLLOW DRIVE
FRISCO, TX 75035 - TEL : (214)-618- 0878
ALL RIGHTS RESERVED. NO PART OF THIS BOOK SHALL BE
REPRODUCED, STORED IN A RETRIEVAL SYSTEM, OR
TRANSMITTED BY ANY MEANS, ELECTRONIC, MECHANICAL,
PHOTOCOPYING, RECORDING, OR OTHERWISE, WITHOUT
WRITTEN PERMISSION FROM THE PUBLISHER INTERNATIONAL
STANDARD BOOK NUMBER
ISBN - 13 : 978-1-934484-04-3
ISBN – 10 : 1-934484-04-0
https://thuviensach.vn
VIẾT TẮT
ARSI, JS : Achivum Romanum Societatis Iesu, Jap. - Sin.
BAVH : Bulettin des Amis du Vieux Hué.
f. 150r : tờ 150 mặt trước.
f. 150v : tờ 150 mặt sau.
Ibid. : Như tài liệu đã dẫn ở trên.
https://thuviensach.vn
LỜI GIỚI THIỆU
Để thực hiện công cuộc truyền đạo của họ tại Đại Việt, các giáo sĩ
Dòng Tên ngay từ khoảng đầu thế kỷ thứ XVII đã cố gắng tạo nên một lối
chữ viết căn cứ trên mẫu tự La Tinh, nhờ đó có thể diễn tả ngôn ngữ Việt.
Từ những sự dò dẫm phiên âm các nhân danh và địa danh lúc ban đầu, cho
đến lúc Đắc Lộ cho xuất bản hai sách quốc ngữ đầu tiên vào năm 1651,
các cố gắng tập thể của các nhà truyền đạo Tây phương cho phép thành
lập chữ viết của chúng ta ngày nay.
L.m. Đỗ Quang Chính đã dựa trên các tài liệu để lại bởi chính các
giáo sĩ nói trên để nghiên cứu giai đoạn hình thành của chữ quốc ngữ này.
Sự tiếp xúc sâu rộng của tác giả với các tài liệu đầu tay, được phân tích
theo một phương pháp sử học chặt chẽ, đã khiến tác giả vạch lại một cách
cặn kẽ sự biến chuyển của cách thức viết chữ quốc ngữ trong tiền bán thế
kỷ thứ XVII. Sự khám phá những tài liệu mới mẻ nhờ ở sự kiên nhẫn tìm tòi
trong các văn khố và thư viện Âu châu cũng lại cho phép tác giả chứng
minh với những bằng cứ cụ thể là đã có nhiều người góp sức vào việc sáng
tác chữ quốc ngữ, trong đó có cả sự góp sức của chính người Việt nữa.
Mặc dầu tác giả đã khiêm tốn công bố là chỉ nhìn vấn đề theo khía
cạnh lịch sử mà thôi, quyển Lịch sử Chữ Quốc Ngữ
(1620-1659) này chắc
chắn là một sự đóng góp đáng kể cho ngành ngữ học Việt Nam, đồng thời
cung hiến cho chúng ta một số dữ kiện mới mẻ về xã hội Thiên Chúa giáo ở
Đại Việt trong tiền bán thế kỷ thứ XVII.
G.S. NGUYỄN THẾ ANH
Trưởng Ban Sử Học
Đại Học Văn Khoa Saigon
https://thuviensach.vn
LỜI TỰA
Lịch sử chữ viết người Việt Nam đang dùng là một vấn đề rộng lớn.
Trên mười năm nay, mấy nhà nghiên cứu đã trình bày một số tài liệu liên
quan đến nó trên báo chí, sách vở. Tuy nhiên, còn nhiều tài liệu quan trọng
vẫn chưa được khai thác. Lợi dụng thời gian ở Âu châu, chúng tôi đã đến
một số Văn khố, Thư viện ở La Mã, Madrid, Lisboa, Ba lê, Lyon, Avignon,
để tìm nhiều tài liệu khác hầu làm sáng tỏ lịch sử chữ viết của chúng ta
ngày nay.
Vấn đề chúng tôi bàn ở đây được hạn định từ năm 1620-1659 và
hầu hết căn cứ trên các tài liệu viết tay. Trong thời gian trên, phần khám
phá mới mẻ nhất mà chúng tôi được hân hạnh trình bày với bạn đọc là từ
năm 1620-1637, và tập « Lịch sử nước Annam » do Bento Thiện viết năm
1659. Đọc qua những phần đó, nhờ chứng cớ cụ thể, bạn đọc sẽ thấy rõ,
linh mục Gaspar d'Amaral viết chữ Việt ngày nay giỏi hơn Linh mục Đắc
Lộ nhiều. Ngoài ra, tài liệu viết tay của Thày giảng Bento Thiện là một kho
tàng quý báu, chứng minh vào giữa thế kỷ 17 đã có người Việt Nam viết
chữ quốc ngữ khá thành thạo.
Mục đích của chúng tôi khi soạn cuốn sách này, chỉ là bổ túc vào
công việc nghiên cứu của những người đi trước. Thiết tưởng còn nhiều tài
liệu khác mà chúng tôi chưa tìm thấy, nhưng hy vọng các nhà khảo cứu sẽ
dần dần đưa ra ánh sáng, hầu hoàn thành công việc quan trọng này.
Sài Gòn, ngày 1 tháng 5 năm 1972.
ĐỖ QUANG CHÍNH
https://thuviensach.vn
LỊCH SỬ CHỮ QUỐC NGỮ
Bàn về lịch sử chữ quốc ngữ từ năm 1620 đến 1659, không có
nghĩa là chúng tôi trình bày hết mọi tài liệu lịch sử liên quan đến vấn đề,
mà chỉ đem ra đây những tài liệu chúng tôi đã khám phá được tận nguồn,
tức là tại các Văn khố và Thư viện. Dựa vào mớ sử liệu đó, chúng tôi xin
trình bày vấn đề qua bốn chương mà chương một được coi như chương mở
đầu cho ba chương kia :
1. Nhận xét của một số người Tây phương về tiếng Việt.
2. Sơ lược giai đoạn thành hình chữ quốc ngữ (1620-1648).
3. Linh mục Đắc Lộ soạn thảo và cho xuất bản hai sách chữ quốc
ngữ đầu tiên năm 1651
4. Tài liệu viết tay năm 1659 của hai người Việt Nam.
https://thuviensach.vn
1. NHẬN XÉT CỦA MỘT SỐ NGƯỜI TÂY
PHƯƠNG VỀ TIẾNG VIỆT
Người cùng một nước nói cùng một thứ tiếng thì ít khi nhận thấy sự
« kỳ lạ » của tiếng mình, bởi vì hằng ngày quá quen với những âm thanh
đó, nên không để ý, trừ khi chịu khó học hỏi, nghiên cứu tiếng nước mình
và đem so sánh với những ngôn ngữ khác. Người Việt chúng ta cũng thế, vì
đã quen với tiếng nước mình từ khi còn nhỏ, nên không để ý đến điều mà
người ngoại quốc thấy khi họ bắt đầu nghe và học tiếng Việt. Trong chương
này, chúng tôi sẽ trình bày nhận xét về tiếng Việt của bốn người Tây
phương sau đây : Cristoforo Borri, Đắc Lộ (Alexandre de Rhodes), Gio.
Filippo de Marini và Joseph Tissanier. Các ông là những người ở Việt Nam
trong khoảng từ 1618 đến 1663, đã học tiếng Việt và đóng góp ít nhiều vào
việc thành lập chữ viết của chúng ta ngày nay. Dưới đây chúng ta sẽ thấy
họ nhận xét thế nào về thanh và ngữ pháp tiếng Việt.
https://thuviensach.vn
THANH TIẾNG VIỆT
1
2
Tháng 12-1624 linh mục Đắc Lộ
từ Áo Môn
đi tầu buôn Bồ Đào
Nha tới cửa Hàn (Đà Nẵng) sau 19 ngày vượt biển và bị bão ở gần đảo Hải
Nam. Tới Đàng Trong, Đắc Lộ đến ở tại Thanh Chiêm (Dinh Chàm), tức là
thủ phủ Quảng Nam Dinh, và học tiếng Việt tại đó. Sau này Đắc Lộ viết : «
Riêng tôi xin thú nhận rằng, khi vừa tới Đàng Trong nghe người Việt nói
chuyện với nhau, nhất là giữa nữ giới, tôi có cảm tưởng như mình nghe
chim hót và tôi đâm thất vọng vì nghĩ rằng không bao giờ có thể học được
3
tiếng Việt » .
Quả thật, đối với người Âu châu, lúc đầu học tiếng Việt thật là khó,
vì họ không phân biệt nổi thanh mỗi tiếng. Linh mục Gio. Filippo de
Marini ở Đàng Ngoài từ 1647-1658, cũng nhận rằng : « Một người sau khi
đã học nói tiếng Việt kha khá, thì kinh nghiệm cho họ hay rằng, tiếng Việt
4
quả là cực kỳ khó khăn » . Linh mục Joseph Tissanier ở Đàng Ngoài từ
1658-1663 cũng ghi lại như sau : « Tôi xin thú nhận rằng, lúc đầu tiếng
Việt làm tôi phát sợ, vì thấy nó khác các ngôn ngữ Âu châu quá, nên hầu
5
như tôi thất vọng trong việc học tiếng này » .
Tuy tiếng Việt khó, nhưng sau một thời gian miệt mài, những người
6
trên đây đã nói và nghe được tiếng Việt. Joseph Tissanier đến Đàng Ngoài
7
ngày 13-4-1658, bốn tháng sau, ông đã có thể tạm « giải tội » và nói
những câu truyện thường với người Việt. Đối với Đắc Lộ, sau mười tháng
8
học, ông đã bắt đầu giảng thuyết . Linh mục C. Borri đến Đàng Trong năm
1618, và qua sáu tháng học tập, ông đã nói truyện và « giải tội » được. Ông
thú nhận rằng, muốn hiểu và nói được tiếng Việt hoàn toàn, phải dành ra
9
bốn năm trọn để học .
https://thuviensach.vn
10
Tiếng Việt tuy khó, nhưng lại « du dương, hòa điệu » « giống như
11
bản nhạc liên hồi » . Borri nói rõ rằng, người nào có tài về âm nhạc, biết
12
phân biệt âm thanh , thì theo ý ông, tiếng Việt là tiếng dễ dàng nhất đối
13
với họ . Marini cho rằng, dường như là dân Việt bẩm sinh đã có một cơ thể
rất chính xác, được điều chỉnh thật đúng và hòa hợp hoàn toàn với trí óc
cùng buồng phổi ; phải nói là, theo tự nhiên, người Việt là nhạc sư, vì họ có
14
tài phát âm một cách nhẹ nhàng và chỉ hơi biến thanh là đã khác nghĩa .
15
Dường như đối với người Việt « nói và hát cũng là một » . Ông Marini nói
thêm : « Khi đọc, người Việt không cần phải thay đổi tiếng mà vẫn làm cho
một tiếng ấy có nhiều nghĩa khác nhau, bởi vì họ chỉ cần lên giọng hoặc hạ
giọng tùy theo cường độ và nhịp điệu. Những người Việt từ nhỏ đã học nói
16
theo nhịp điệu, dầu họ không phải là nhạc sư » .
Theo Đắc Lộ, Marini, Tissanier, thanh tiếng Việt khó vì những lý do
sau đây : Thứ nhất, tất cả mọi tiếng đều là cách ngữ. Thứ hai, cùng một
tiếng phát âm một cách khác nhau, có thể chỉ nhiều nghĩa và thường lại có
nghĩa đối nghịch nhau. Vì thế theo Đắc Lộ, cùng một tiếng như tiếng Daï
chẳng hạn, nếu đọc bằng nhiều cách, thì nó chỉ tới 23 sự vật hoàn toàn khác
17
nhau . Thứ ba, thanh của mỗi tiếng đôi khi rất nhẹ và khá tế nhị. Do đấy, ai
muốn tấn tới trong việc học tiếng Việt, phải chu chu chăm chắm mà học, để
có thể phân biệt được các thanh. Thứ bốn, đây là điểm khó khăn nhất trong
khi dùng tiếng Việt, đó là việc phát âm. Trong khi đọc lên một tiếng, người
ta phải làm thế nào để hơi thở, môi, răng, lưỡi và họng cùng hòa hợp phát
ra một tiếng vừa phải và chính xác. Như vậy thì tiếng vừa phát ra mới chỉ
18
đúng sự việc mình muốn nói .
Hẳn thật những điểm khó khăn trên đây về thanh tiếng Việt, người
Âu châu cảm thấy rõ ràng nhất. Cùng một tiếng, thêm bớt hay là uốn hạ âm
thanh, đều làm cho nghĩa khác nhau. Điều này không thấy ở trong nhiều
tiếng, như La tinh, Bồ Đào Nha, Tây ban Nha, Ý, Pháp, Anh v.v... Chính
L.m. Đắc Lộ khi bàn về thanh tiếng Việt đã cho một số ví dụ và thuật lại
https://thuviensach.vn
vài mẩu chuyện hay hay về việc người Tây phương nói tiếng Việt. Sau đây
là ví dụ của ông :
Trong tiếng ba, nếu thêm thanh huyền sẽ thành chữ bà, thanh hỏi
thành bả, thanh sắc thành bá, thanh nặng thành bạ và thanh ngã thành bã.
Như vậy, sáu thanh (cũng có thể gọi là sáu dấu) trong một tiếng làm khác
hẳn nghĩa mỗi tiếng khi phát âm : ba bà bả [vả] bá bạ bã. Theo lời giải
nghĩa của Đắc Lộ, thì sáu tiếng trên đây hoàn toàn là một câu và có đủ
nghĩa như sau : Ba bà thổi vào mặt (hay tát vào mặt) bà thứ phi đã bị duồng
19
dẫy (bỏ rơi) một thứ cặn thuốc (thuốc độc) . Để bạn đọc hiểu rõ hơn ý
nghĩa câu trên mà Đắc Lộ đã trình bày, chúng tôi tưởng cần phải trích ngay
những định nghĩa về mấy chữ đó do Đắc Lộ ghi trong cuốn Tự điển của
20
ông xuất bản tại La mã năm 1651 :
« Ba : tres : tres, vel tria. ba ngôi : tres pessoas : tres personae.
« Ba, bổ [vổ] tay ba [ca] hát : fazer som com as palmas pera cantar
: plaudere manibus ad canendum.
« Ba, thịt ba rội : carne di porco gorda com camas de magra : caro
suila lardo intersita.
« Bá : bá léy : tomar o que lhe não dão : rapio, is.
« Bá : molher segunda de principe, ou gouernador : concubina
principis viri.
« Bà : auo, Senhora : auia, domina.
« Bà, đức bà : molher de principe, ou Gouernador grande : vxor
principis viri.
« Bà, đân bà : femea : faemina, ae.
https://thuviensach.vn
« Bả, thủ bả : vigia de posta : custos, dis.
« Bả, cái bả : certa peça de seda a modo de canga de cordao :
fericum quoddam in modum panni linei retorti.
« Bạ : vntar : illinire.
« Bạ vàng : dourar : inauro, as.
« Bạ, ai bạ thì ley : cousa que nao tem dono, quemquer a toma : res
pro derelictâ, quae est primo occupantis.
« Bã : bagaço : magma, tis. bã thúoc : o bagaço da meizinha :
magma medicinae jam peractae et sic de aliis rebus.
L.m. Đắc Lộ muốn chứng minh rõ rệt hơn, còn đem ra một ví dụ
khác : Chữ ca, nếu thêm thanh (dấu), có bốn nghĩa khác nhau : ca : hát, cà :
21
trái cà, cả : lớn, cá : con cá . Để người ngoại quốc thấy rõ hơn sự nguy
hiểm trong khi phát thanh sai tiếng Việt, Đắc Lộ thuật lại hai câu chuyện
sau đây : Một hôm L.m. bạn với Đắc Lộ muốn bảo người giúp việc đi chợ
mua cá. Khi người giúp việc ở chợ về, bảo cho ông hay là đã mua như ý
L.m. muốn. Ông liền xuống nhà bếp coi xem loại cá nào, thì ông bỡ ngỡ vì
người đi chợ lại mua một thúng đầy cà. L.m. biết ngay là vì đã đọc trại
tiếng cá thành cà, nên ông xin lỗi người giúp việc. Một L.m. khác bảo
người nhà đi chém tre. Đoàn trẻ em trong nhà L.m. nghe thế sợ quá, bỏ
chạy tán loạn. Thì ra ông phát thanh lầm là chém trẻ, nên làm cho đàn trẻ
em khiếp sợ. Phải giải thích mãi trẻ em mới yên tâm và trở về nhà với Linh
22
mục .
https://thuviensach.vn
NGỮ PHÁP TIẾNG VIỆT
Đối với người Việt Nam học tiếng Việt từ lúc thơ ấu, nên dầu không
cần học ngữ pháp, cú pháp v.v... vẫn có thể nói được tiếng Việt. Nhưng một
người ngoại quốc, lúc bắt đầu học tiếng Việt thật là khó. L.m. Marini nói rõ
một điểm khó khăn nữa đối với người Âu châu khi học tiếng Việt, là phải
hiểu hoàn toàn ý nghĩa của một lời, phải biết sắp đặt cú pháp cho đúng, nếu
không nghĩa mỗi câu sẽ sai lạc hoàn toàn. Sự khó khăn đó là do tiếng Việt
rất ít giống đực cái (hầu như không có), hầu như không có số nhiều ít,
23
không có tận mỗi tiếng, động từ không chia v.v... .
Để trấn tĩnh người Âu châu muốn học tiếng Việt, Marini đưa ra lý lẽ
sau : Trong những ngôn ngữ, dầu về mặt ngữ pháp đơn sơ, người ta vẫn có
nhiều cách bù lại dễ dàng, để có thể đặt thành câu nói viết trôi chảy. Vậy,
nếu tiếng Việt có một ngữ pháp đơn giản sánh với nhiều tiếng Âu châu, thì
họ cũng có cách khác bù đắp lại, mà cách thế dùng nhiều nhất là thể phát
24
âm và trong cách đọc
. Quả thật, vẫn theo Marini, lúc mới học tiếng Việt,
thì nhận thấy mọi cái đều quá lạ thường, làm cho mình lẩn quẩn, rối rít
không biết làm sao đặt cho đúng tiếng trong mỗi câu và phân biệt âm thanh
để hiểu được ý nghĩa. Nhưng rồi, nhờ học hành cẩn thận, giao tiếp nhiều
25
với người Việt, thì những khó khăn đó tan biến dần dần .
Tóm lại, đối với người Âu châu, thì thanh tế nhị và ngữ pháp đơn
sơ
là những khó khăn lớn nhất đối với họ. Khi bàn về tiếng Việt, các tác
giả Tây phương vào thế kỷ thứ 17 đều nhận như thế. Marini còn nhận xét
này : người Việt Nam ưa tiếng của họ hơn ai hết vì tiếng đó đơn giản. Một
tiếng bao hàm rất nhiều nghĩa, còn như tiếng Ý chẳng hạn lại cầu kỳ, lôi
thôi : nếu muốn đọc tiếng Tranquillità thì phải phát ra bốn tiếng, mà chỉ có
một nghĩa, trong khi tiếng Việt chỉ cần một âm là An, cũng có nghĩa như
26
https://thuviensach.vn
chữ Tranquillità của Ý, ấy là chưa nói đến việc chữ An còn có nhiều nghĩa,
27
nếu thêm các dấu .
Trên đây là một số nhận xét về tiếng Việt của mấy Linh mục Dòng
Tên truyền giáo tại Việt Nam cách đây trên ba thế kỷ. Nhữhg nhận xét đó
tuy đơn giản, nhưng cũng chứng tỏ sự quan tâm của các ông về tiếng Việt.
Chính nhờ những nhận xét ấy và nhiều nhận xét khác, mà các ông cùng với
một số Linh mục Âu châu khác cũng sống ở Việt Nam thời đó và sự cộng
tác của các Thày giảng Việt Nam, đã đóng góp kẻ nhiều người ít vào việc
thành lập chữ viết của chúng ta ngày nay.
Bây giờ trong chương liền đây, chúng tôi cũng đứng về phương
diện lịch sử bàn tới sự thành hình chữ quốc ngữ vào giai đoạn đầu tiên, tức
là từ 1620 đến 1648. Về vấn đề này tuy đã có một số nhà nghiên cứu nhắc
28
qua tới , nhưng chúng tôi muốn dành hẳn một chương để trình bày nhiều
tài liệu mới khám phá được, hầu góp phần nào vào công việc quan trọng
này.
https://thuviensach.vn
2. SƠ LƯỢC GIAI ĐOẠN HÌNH THÀNH CHỮ
QUỐC NGỮ (1620-1648)
Chữ Việt ngày nay là một thứ chữ đã được nhiều Linh mục Dòng
Tên ở Việt Nam (với sự cộng tác âm thầm của một số Thầy giảng Việt
Nam) vào thế kỷ 17 sáng tạo ra. Nói một cách tổng quát thì họ đã dùng mẫu
tự La tinh, rồi dựa vào phần nào của chữ Bồ Đào Nha, Ý và mấy dấu Hy
29
Lạp, để làm thành chữ mà chúng ta đang dùng . Chúng ta đều quá rõ là
vào thời ấy, Việt Nam dùng chữ Nho là chính, còn chữ Nôm là phụ thuộc.
Khi các nhà truyền giáo đến Đàng Trong đã bắt đầu áp dụng dần
dần mẫu tự La tinh cho tiếng Việt. Thực ra đây là một cách bắt chước các
nhà truyền giáo Dòng Tên Tây phương ở Nhật Bản. Vì đầu thế kỷ thứ 17,
họ cũng đã cho xuất bản một vài cuốn sách ngữ vựng và ngữ pháp Nhật
30
theo mẫu tự abc .
Sau đây chúng tôi sẽ theo các tài liệu viết tay và cuốn sách của C.
Borri vào đầu thế kỷ thứ 17, sơ lược sự hình thành chữ quốc ngữ qua hai
giai đoạn : 1620-1626 và 1631-1648.
https://thuviensach.vn
GIAI ĐOẠN MỘT : 1620-1626
Theo lịch sử để lại thì vào giữa thế kỷ thứ 16 và nhất là vào cuối thế
kỷ đó, mấy nhà truyền giáo Âu châu, như I Ni Khu, Gaspar da Santa Cruz,
Louis da Fonseca, G. de la Motte, Diego Advarte đã đến miền Hà Tiên và
31
Thừa Thiên ; nhưng hoạt động của các ông không được ghi lại rõ rệt.
Sang đầu thế kỷ 17, các nhà truyền giáo Dòng Tên gồm người Âu
châu và một số ít người Trung Hoa, Nhật Bản, mới chính thức đến truyền
bá Phúc âm ở Việt nam, và hoạt động của các ông đã được ghi lại khá đầy
đủ.
Ngày 6-1-1615, ba tu sĩ Dòng Tên là hai L.m. Francesco Buzomi
32
(Ý), Diego Carvalho (Bồ Đào Nha) và Thầy Antonio Dias (Bồ Đào Nha) ,
đáp tàu buôn Bồ Đào Nha từ Áo Môn đi Đàng Trong và tới Cửa Hàn ngày
33
18-1-1615 . Sau đó mấy tháng các ông đến ở Hội An. Tại đây, nhờ biết
tiếng Trung Hoa và Nhật, nên các ông có thể giao thiệp với kiều dân Hoa
Nhật. Nhân tiện, chúng tôi cũng xin ghi lại mấy dòng lịch sử Hội An thời
ấy.
Theo sự hiểu biết của chúng tôi thì thời đó người Việt gọi Hội An là
Hải Phố, tức là nơi buôn bán ở bờ bể. Khi người Nhật và Trung hoa tới đó
bắt đầu từ cuối thế kỷ 16, Hải Phố là nơi buôn bán sầm uất. Các nhà truyền
giáo tới đây vào năm 1615, nghe người Nhật đọc Hải Phố là Hoaipho,
34
nhưng rồi các ông thường đọc trại Faifo . Người Âu châu viết chữ Hải Phố
bằng nhiều cách : Haifo, Hai fo, Haito, Faifo, Facfo, Fayfo, Fayfô, Fayfó,
Faiso, Taifò, v.v... Tại Hội An, có hai khu riêng biệt, một dành cho người
Trung Hoa, một dành cho người Nhật. Kiều dân Nhật dưới quyền cai trị của
một người Nhật do Chúa Nguyễn bổ nhiệm, Hoa kiều cũng do một người
Trung Hoa cai trị được Chúa Nguyễn bổ nhiệm. Riêng vị chỉ huy người
Nhật lại được Chúa Nguyễn trao cho trách nhiệm về các người Tây phương
https://thuviensach.vn
35
ở Hội An . Theo Borri, thời ấy Đàng Trong có hơn 60 cửa bể, sầm uất nhất
là Hội An, còn hai hải cảng quan trọng thứ nhì là cửa Hàn và Nước Mặn
(Qui Nhơn). Các thương thuyền Trung Hoa, Nhật, Manila, Mã Lai, Cam
Bốt v.v... thường đến ba cửa bể đó.
Ba nhà truyền giáo mà chúng ta vừa nói, đến Hội An với mục đích
đầu tiên là để giúp đỡ giáo hữu Nhật về mặt tôn giáo, và nhờ người Nhật
làm thông ngôn để tiếp xúc với người Việt Nam. Sau năm 1615, nhiều tu sĩ
Dòng Tên khác không những đến truyền giáo ở Đàng Trong mà cả Đàng
36
Ngoài nữa, nhưng đa số là người Bồ Đào Nha .
Các nhà truyền giáo tới Việt Nam thời ấy đều phải học tiếng Việt
mới có thể tiếp xúc với người Việt Nam. Theo chúng tôi biết thì L.m.
Francisco de Pina là người Âu Châu đầu tiên nói thạo tiếng Việt. Pina sinh
năm 1585 ở Bồ Đào Nha, ông tới Đàng Trong năm 1617. Lúc đầu Pina
sống ở Hội An, sang năm 1618 ông ở tại Nước Mặn với Buzomi và Borri.
Hai năm sau, ông trở lại Hội An, rồi năm 1623, Pina đến ở tại Thanh
Chiêm, thủ phủ Quảng Nam Dinh. Pina chết đuối ở bờ bể Quảng Nam ngày
15-12-1625. Dịp đó có tầu Bồ Đào từ Cam Bốt về Áo Môn, bỏ neo ở hải
phận Quảng Nam, Pina cùng một người Việt Nam chèo thuyền ra tầu Bồ
Đào để lấy các đồ phụng tự. Khi thuyền đang đi vào bờ, bị gió bão bất chợt,
lật thuyền Pina. Vì mặc áo dài, Pina không bơi vào được, còn người Việt
kia bơi vào bờ thoát nạn. Sau đó người ta vớt được xác Pina đem về Hội An
37
làm lễ an táng rất trọng thể .
Nhờ biết tiếng Việt, nên ngay từ năm 1620 các tu sĩ Dòng Tên tại
38
Hội An đã soạn thảo một sách giáo lý bằng « chữ Đàng Trong » tức là
39
chữ Nôm . Cuốn sách này vì soạn bằng chữ Nôm, nên chắc phải có sự
cộng tác của người Việt.
Nhưng chúng tôi tưởng cuốn này cũng được viết bằng chữ Việt mới
nữa (chữ quốc ngữ ngày nay), mà người có công soạn thảo là L.m.
https://thuviensach.vn
Francisco de Pina vì lúc đó chỉ có ông là người Âu châu thạo tiếng Việt
nhất. Chúng tôi đoán rằng, cuốn sách này không được in (in theo kiểu Việt
Nam thời đó), mà chỉ chép tay. Có lẽ lúc ấy người Công giáo ở Hội An,
Quảng Nam... chép tay bản chữ Nôm để dùng, còn các nhà truyền giáo lại
chép sang mẫu tự abc. Nếu đúng thế thì đây là cuốn sách Việt Nam đầu tiên
bằng mẫu tự La tinh. Tiếc rằng ngày nay không còn thấy cuốn giáo lý trên
dầu là bản chữ Nôm hay chữ quốc ngữ.
Theo sự nhận xét của chúng tôi thì vào năm 1620 dù L.m. Pina đã
nói được tiếng Việt, nhưng khó lòng mà phân biệt được lối cách ngữ như
chúng ta dùng ngày nay. Dựa vào những tài liệu viết tay năm 1621-1626,
chúng tôi biết được hầu hết các chữ còn viết liền và chưa thấy đánh dấu
vào những chữ đó. Chính dựa theo hai đặc điểm này mà chúng tôi cho là
giai đọan sơ khởi chữ quốc ngữ. Bây giờ chúng tôi xin trình bày 7 tài liệu
để chứng minh.
Tài liệu viết tay năm 1621 của João Roiz
Đây là bản tường trình hằng năm của Tỉnh Dòng Tên Nhật Bản, mà
L.m. Giám sát ủy cho L.m. João Roiz dựa theo các báo cáo ở Đàng Trong
soạn thảo, để gởi cho L.m. Mutio Viteleschi, Bề trên Cả Dòng Tên ở La
Mã. Tài liệu soạn bằng tiếng Bồ Đào Nha, gồm 15 tờ tức 30 trang kể cả
trang bìa. Chữ viết trung bình, không lớn quá cũng không nhỏ quá, trong
khổ 14 X 22 cm. Tường trình này biên soạn tại Áo Môn ngày 20-11-1621.
Tài liệu chia ra ba phần rõ rệt : Phần mở đầu gồm 6 trang ; Phần thứ hai
gồm 8 trang ghi lại những hoạt động của các tu sĩ Dòng Tên tại Hội An và
phụ cận với đầu đề : « Residencia de Faifô na Provincia de Cacham » (Cư
sở Hội An trong tỉnh Cacham [Quảng Nam] ; phần thứ ba gồm những trang
còn lại viết về những kết quả truyền giáo ở Nước Mặn, với đầu đề : «
Residencia de Nuocman na provincia de Pulo Cambi » (Cư sở Nước Mặn
40
trong tỉnh Pulo Cambi [Qui Nhơn]) . Dưới đây là những chữ quốc ngữ
trong tài liệu :
https://thuviensach.vn
41
Annam
: An Nam.
42
Sinoa
: Xứ Hóa, tức Thuận Hóa.
43
Unsai : Ông Sãi.
44
Cacham
: Ca chàm (kẻ Chàm hay Thạnh Chiêm), là thủ phủ
Quảng Nam Dinh, ở về phía Tây Hội An ngày nay. Dân chúng thời ấy cũng
gọi Kẻ Chàm là Dinh Chàm.
Ungue : Catecismo fez o Pe ao Ungue nosso amigo, ea (?) outros
45
muitos assi Christaõs como gentios, que concorrerão aouuilo [a ouvido]
(Một Cha dạy giáo lý cho ông Nghè, ông là người bạn thân của chúng tôi,
và Cha đó cũng dạy giáo lý cho nhiều giáo hữu cùng lương dân tuốn đến
nghe giảng).
Chữ Ungue tức Ông Nghè được tác giả viết liền lại chứ không viết
cách ngữ như chúng ta ngày nay. Chúng ta đều biết, Ông Nghè là một danh
từ bình dân dùng để gọi các vị Tiến sĩ. Còn danh từ Ông Nghè Bộ, mà
chúng ta thấy trong các tài liệu viết tay cũng như trong sách truyền giáo của
nhiều nhà truyền giáo Tây phương ở Việt Nam vào thế kỷ thứ 17, là một
chức quan ở các Dinh (Tỉnh) Đàng Trong, có nhiệm vụ lo việc thuế má và
tài chính. Thực ra, chức vị của ông này là Cai bạ, một trong ba quan (Đô
tri, Cai bạ, Nha úy) làm việc trực tiếp dưới quyền viên Trấn thủ của mỗi
dinh. Tiện đây cũng nên biết các nhà truyền giáo Tây phương viết chữ Ông
Nghè hoặc Ông Nghè
Bộ dưới nhiều hình thức khác nhau :
Gaspar LUIS, Cocincinensis missionnis annuae Litterae anni 1260,
ARSI, JS. 71 :
Unguè (f. 23v), Ungué (f. 24v).
BORRI, Relation de la nouvelle mission des Pères de la Compagnie
de Jésus, Lille, 1631 : Omgné (tr. 182).
https://thuviensach.vn
RHODES, Histoire du Royaume de Tunquin, Lyon, 1651 : Oun ghe
(tr. 170).
RHODES, Relation des progrès de la foi au royaume de la
Cochinchine, Paris, 1652 : Ouenglebo (tr. 43), Onghebo (tr. 44).
RHODES, Divers voyages et missions, Paris, 1653 : Onyhebo (tr.
123), Oun Gueh (tr. 183), Ongehbo (tr. 203), Ongehbo (tr. 203), Ou-ngesbo (tr. 206), Oun ghebo (tr. 212), Oun-ges-bo (tr. 226).
Metelle SACCANO, Relation des progrès de la foi au royaume de
la Cochinchine dés années 1646 et 1647, Paris, 1653 : Onguebo (tr. 133).
Maurus de Sa. MARIA, Thư viết tại cửa Hàn ngày 2-8-1698, gửi
cho L.m. J. - A. Arnedo, ARSI, JS. 70 : Oũ ngè bộ (f. 264r).
Emmanuel FERREYRA, Noticias summarias das perseguicoẽs da
missam de Cochinchina, Lisboa, 1700 : Oum Nhembo (tr. 52), Oum Nhebo
(tr. 53), Ou Nhebo (tr. 54).
Sau khi chúng ta tìm hiểu lối viết chữ Ông Nghè của các tác giả trên
đây, bây giờ chúng ta tiếp tục trích ra những chữ quốc ngữ trong bản tường
trình của João Roiz :
46
Ontrũ
: Ông Trùm, là một người đứng đầu Xứ đạo.
47
Nuocman : Nước mặn, một thành phố xưa ở phía Bắc Qui Nhơn
48
ngày nay chừng 20 cs. Một số bản đồ thế kỷ thứ 19 còn ghi địa danh này .
49
Bafu
: Bà Phủ, tức là vợ quan phủ Qui Nhơn vào năm 1618. Nên
nhớ lúc đó Qui Nhơn mới chỉ là một Phủ giáp với lãnh thổ Chiêm Thành.
50
Sai Tubin
: Sãi Từ Bình (?).
https://thuviensach.vn
51
Banco : Bàn cổ một « thần » khổng lồ tạo dựng vũ trụ, con người.
Hồi xưa dân Việt Nam theo thần thoại Trung Hoa nghĩ như thế.
52
Oundelim
: Ông Đề lĩnh.
Tài liệu viết tay năm 1621 của Gaspar Luis
Cùng năm 1621, L.m. Gaspar Luis cũng viết một bản tường trình về
giáo đoàn Đàng Trong gửi cho L.m. Mutio Vitelleschi ở La Mã. Nội dung
bản tường trình này cũng không khác của João Roiz. Tuy nhiên, bản của
Luis lại soạn thảo bằng La ngữ và vắn hơn bản của Roiz. Tài liệu gồm tám
trang rưỡi, viết chữ cỡ trung bình, trong khổ 12 X 20 cm. Tác giả soạn tài
53
liệu này tại Áo Môn ngày 12-12-1621
. Gaspar Luis nhắc đến ít danh từ
Việt hơn Roiz. Nếu có dùng vài ba chữ Việt, thì lại cũng viết giống như
Roiz, ví dụ : Cacham, Nuocman, trừ hai chữ sau đây Luis viết khác Roiz :
54
Ungue và Ungué
: Ông nghè.
55
Bancô
: Bàn cổ.
Tài liệ...
Tên sách : LỊCH SỬ CHỮ QUỐC NGỮ 1620-1659
Tác giả : ĐỖ QUANG CHÍNH, SJ.
Nhà xuất bản : ANTÔN & ĐUỐC SÁNG, SAIGON
Năm xuất bản : 1972
IN LẠI NGUYÊN VĂN THEO ẤN BẢN
CỦA TỦ SÁCH RA KHƠI
CÓ SỬA CHỮA CỦA TÁC GlẢ
-----------------------Nguồn sách : Diễn đàn TVE-4U
Đánh máy : Nhóm đánh máy trên wiki TVE-4U
Kiểm tra chính tả : Fish, ngankhanh.tran, dtpmai189, hero229, Ducko,
suongdem, hiếuvânhưng, Song+SS, Thư Võ
Biên tập ebook : Thư Võ
Ngày hoàn thành : 13/11/2017
https://thuviensach.vn
Ebook này được thực hiện theo dự án phi lợi nhuận « SỐ HÓA 1000
QUYỂN SÁCH VIỆT MỘT THỜI VANG BÓNG » của diễn đàn TVE4U.ORG
Cảm ơn tác giả ĐỖ QUANG CHÍNH, SJ. đã chia sẻ kiến thức đến
người đọc
https://thuviensach.vn
Ghi Chú của nhóm làm Ebook :
- Nhóm làm ebook sao y bản chính bằng hình ảnh những đoạn văn có ký tự
đặc biệt mà do giới hạn của font chữ và bàn phím máy vi tính không thể
sao chép như nguyên mẫu. Mong bạn đọc thông cảm.
- Nhóm làm ebook cũng sao y bản chính những đoạn cổ văn tiếng Pháp, Ý,
La tinh, Bồ Đào Nha của thế kỷ 17, mà có vài sự khác biệt trong cách viết
so với cách ngày nay, ví dụ việc sử dụng ký tự ES thay vì Ê, ES thay vì É,
I thay vì J, Ï thay vì Y, Y thay vì I, U thay vì V (và ngược lại), Z thay vì S,
OIT thay vì AIT, jusques à thay vì jusqu'à... Những cách viết này cũng
được các tác giả (Linh mục) dùng khi Latinh hoá tiếng Việt, ví dụ : « Tau
rữa mầï nhần danh Cha, uà con, uà spirito santo » và « Vô danh, Cắt ma,
Cắt xác, Blai có ba hồn bãÿ uía, Chúa blòÿ ba ngôy nhấn danh ».
Ví dụ vài đoạn cổ văn nước ngoài điển hình được trích dẫn trong sách :
Chú thích 3 :
« Pour moy je vous adoüe que quand je fus arriué à la Cochinchine et que
j'entendois parler les naturels du païs
particulierement les femmes ; il me
sembloit d'entendre gasoüiller des oyseaux, et je perdois
l'esperance de
la pouuoir jamais aprendre » (RHODES, Divers voyages et missions du P.
Alexandre de Rhodes en Chine, et autre Royaumes de l'Orient, Paris, 1653,
tr. 72).
Chú thích 115 :
RHODES, Histoire dv
Royavme de Tvnquin, et des grands progrez
qve la
predication de l'Evangile y a faits en la conuersion des Infidelles. Depuis
l'Année 1627 jusques à l'Année 1646. Composée en latin par le R.P.
Alexandre de Rhodes, de la Compagnie de Jésvs Et tradvite en françois
par le R.P. Henry Albi, de la mesme Compagnie.
Chú thích 148 :
https://thuviensach.vn
Delle Missioni de, « Padri della Compagnia di Giesv nella Prouincia del
Giappone, e particolarmente di quella di Tumkino Libri cinqve. Del P. Gio
: Filippo de Marini della medesima Compagnia. Alla Santita di N.S.
Alessandro PP. Settimo, Roma, 1663.
Chú thích 182
:
« Celuy qui m'ayda
merueilleusement fut vn petit garçon du pais qui
m'enseigna dans trois semaines, tous les diuers tons de cette langue, et la
façon de prononcer tous les mots, il n'entendoit point ma langue ; ny
moy
la sienne, mais il auoit
vn si bel esprit, qu'il comprenoit incontinent tout
ce que je voulois dire, et en effect en ces mesmes trois semaines il apprit à
lire nos lettres, à escrire, et à seruir la Messe, j'estois
estonné de voir la
promptitude de cét esprit, et la fermeté de sa memoire » (RHODES, Divers
voyages et missions, tr. 73).
Sách tham khảo :
Dictionarivm
annamiticvm, Lvsitanvm, et latinvm, ope Sacrae
Congregationis de Progaganda Fide in Lvcem
editvm ab Alexandro de
Rhodes è Societate Iesv, ejusdemque Sacrae Congregationis Missionario
Apostolico, Roma, 1651, in-4°.
(Tham khảo về những cách viết trên qua tác phẩm La science vniverselle où
la vraye philosophie plus estenduë que la vulgaire et reduite en vn ordre
naturel, selon la plus certaine liaison des sciences particulieres & des arts,
Charles Sorel, chez Tovssianct Qvinet,1647).
https://thuviensach.vn
MỤC LỤC
VIẾT TẮT
LỜI GIỚI THIỆU
LỜI TỰA
LỊCH SỬ CHỮ QUỐC NGỮ
1. NHẬN XÉT CỦA MỘT SỐ NGƯỜI TÂY PHƯƠNG VỀ TIẾNG
VIỆT
THANH TIẾNG VIỆT
NGỮ PHÁP TIẾNG VIỆT
2. SƠ LƯỢC GIAI ĐOẠN HÌNH THÀNH CHỮ QUỐC NGỮ (16201648)
GIAI ĐOẠN MỘT : 1620-1626
Tài liệu viết tay năm 1621 của João Roiz
Tài liệu viết tay năm 1621 của Gaspar Luis
Tài liệu năm 1621 của Cristoforo Borri
Tài liệu viết tay năm 1625 của Đắc Lộ
Tài liệu viết tay năm 1626 của Gaspar Luis
Tài liệu viết tay năm 1626 của Antonio de Fontes
Tài liệu viết tay năm 1626 của Francesco Buzomi
GIAI ĐOẠN HAI : 1631-1648
Tài liệu viết tay của Đắc Lộ từ 1631-1647
Thư của Đắc Lộ viết tháng 1-1631
Tài liệu của Đắc Lộ viết vào tháng 5-1631
Tài liệu của Đắc Lộ viết năm 1636
Tài liệu của Đắc Lộ viết năm 1644
https://thuviensach.vn
Tài liệu của Đắc Lộ viết năm 1647
Tài liệu viết tay của Gaspar d'Amaral năm 1632 và 1637
Tài liệu của Gaspar d'Amaral viết năm 1632
Tài liệu của Gaspar d'Amaral viết năm 1637
Tài liệu viết tay năm 1645 và 1648
Tài liệu viết tay năm 1645
Tài liệu viết tay năm 1648
3. LINH MỤC ĐẮC LỘ SOẠN THẢO VÀ CHO XUẤT BẢN HAI
SÁCH CHỮ QUỐC NGỮ ĐẦU TIÊN NĂM 1651
ĐẮC LỘ HỌC TIẾNG VỆT
ĐẮC LỘ CHO XUẤT BẢN HAI SÁCH QUỐC NGỮ
Thời gian soạn thảo, hình thức và nội dung
Cuốn Dictionarium
Cuốn Cathechismus
Công cuộc xuất bản
4. TÀI LIỆU VIẾT TAY NĂM 1659 CỦA HAI NGƯỜI VIỆT NAM
TÀI LIỆU VIẾT TAY NĂM 1659 CỦA IGESICO VĂN TÍN
TÀI LIỆU VIẾT TAY NĂM 1659 CỦA BENTO THIỆN
TẬP « LỊCH SỬ NƯỚC ANNAM » VIẾT TAY NĂM 1659 CỦA
BENTO THIỆN
LỜI KẾT
NGUYÊN BẢN TÀI LIỆU VIẾT TAY
TÀI LIỆU THAM KHẢO
https://thuviensach.vn
ĐỖ QUANG CHÍNH, SJ.
LỊCH SỬ CHỮ QUỐC NGỮ
1620-1659
IN LẠI NGUYÊN VĂN THEO ẤN BẢN
CỦA TỦ SÁCH RA KHƠI - SAIGON 1972
CÓ SỬA CHỮA CỦA TÁC GlẢ
ANTÔN & ĐUỐC SÁNG
https://thuviensach.vn
COPYRIGHT 2007 BY ANTÔN & ĐUỐC SÁNG
PUBLISHED BY ANTÔN & ĐUỐC SÁNG
NGHĨA & PHƯƠNG
11475 STILL HOLLOW DRIVE
FRISCO, TX 75035 - TEL : (214)-618- 0878
ALL RIGHTS RESERVED. NO PART OF THIS BOOK SHALL BE
REPRODUCED, STORED IN A RETRIEVAL SYSTEM, OR
TRANSMITTED BY ANY MEANS, ELECTRONIC, MECHANICAL,
PHOTOCOPYING, RECORDING, OR OTHERWISE, WITHOUT
WRITTEN PERMISSION FROM THE PUBLISHER INTERNATIONAL
STANDARD BOOK NUMBER
ISBN - 13 : 978-1-934484-04-3
ISBN – 10 : 1-934484-04-0
https://thuviensach.vn
VIẾT TẮT
ARSI, JS : Achivum Romanum Societatis Iesu, Jap. - Sin.
BAVH : Bulettin des Amis du Vieux Hué.
f. 150r : tờ 150 mặt trước.
f. 150v : tờ 150 mặt sau.
Ibid. : Như tài liệu đã dẫn ở trên.
https://thuviensach.vn
LỜI GIỚI THIỆU
Để thực hiện công cuộc truyền đạo của họ tại Đại Việt, các giáo sĩ
Dòng Tên ngay từ khoảng đầu thế kỷ thứ XVII đã cố gắng tạo nên một lối
chữ viết căn cứ trên mẫu tự La Tinh, nhờ đó có thể diễn tả ngôn ngữ Việt.
Từ những sự dò dẫm phiên âm các nhân danh và địa danh lúc ban đầu, cho
đến lúc Đắc Lộ cho xuất bản hai sách quốc ngữ đầu tiên vào năm 1651,
các cố gắng tập thể của các nhà truyền đạo Tây phương cho phép thành
lập chữ viết của chúng ta ngày nay.
L.m. Đỗ Quang Chính đã dựa trên các tài liệu để lại bởi chính các
giáo sĩ nói trên để nghiên cứu giai đoạn hình thành của chữ quốc ngữ này.
Sự tiếp xúc sâu rộng của tác giả với các tài liệu đầu tay, được phân tích
theo một phương pháp sử học chặt chẽ, đã khiến tác giả vạch lại một cách
cặn kẽ sự biến chuyển của cách thức viết chữ quốc ngữ trong tiền bán thế
kỷ thứ XVII. Sự khám phá những tài liệu mới mẻ nhờ ở sự kiên nhẫn tìm tòi
trong các văn khố và thư viện Âu châu cũng lại cho phép tác giả chứng
minh với những bằng cứ cụ thể là đã có nhiều người góp sức vào việc sáng
tác chữ quốc ngữ, trong đó có cả sự góp sức của chính người Việt nữa.
Mặc dầu tác giả đã khiêm tốn công bố là chỉ nhìn vấn đề theo khía
cạnh lịch sử mà thôi, quyển Lịch sử Chữ Quốc Ngữ
(1620-1659) này chắc
chắn là một sự đóng góp đáng kể cho ngành ngữ học Việt Nam, đồng thời
cung hiến cho chúng ta một số dữ kiện mới mẻ về xã hội Thiên Chúa giáo ở
Đại Việt trong tiền bán thế kỷ thứ XVII.
G.S. NGUYỄN THẾ ANH
Trưởng Ban Sử Học
Đại Học Văn Khoa Saigon
https://thuviensach.vn
LỜI TỰA
Lịch sử chữ viết người Việt Nam đang dùng là một vấn đề rộng lớn.
Trên mười năm nay, mấy nhà nghiên cứu đã trình bày một số tài liệu liên
quan đến nó trên báo chí, sách vở. Tuy nhiên, còn nhiều tài liệu quan trọng
vẫn chưa được khai thác. Lợi dụng thời gian ở Âu châu, chúng tôi đã đến
một số Văn khố, Thư viện ở La Mã, Madrid, Lisboa, Ba lê, Lyon, Avignon,
để tìm nhiều tài liệu khác hầu làm sáng tỏ lịch sử chữ viết của chúng ta
ngày nay.
Vấn đề chúng tôi bàn ở đây được hạn định từ năm 1620-1659 và
hầu hết căn cứ trên các tài liệu viết tay. Trong thời gian trên, phần khám
phá mới mẻ nhất mà chúng tôi được hân hạnh trình bày với bạn đọc là từ
năm 1620-1637, và tập « Lịch sử nước Annam » do Bento Thiện viết năm
1659. Đọc qua những phần đó, nhờ chứng cớ cụ thể, bạn đọc sẽ thấy rõ,
linh mục Gaspar d'Amaral viết chữ Việt ngày nay giỏi hơn Linh mục Đắc
Lộ nhiều. Ngoài ra, tài liệu viết tay của Thày giảng Bento Thiện là một kho
tàng quý báu, chứng minh vào giữa thế kỷ 17 đã có người Việt Nam viết
chữ quốc ngữ khá thành thạo.
Mục đích của chúng tôi khi soạn cuốn sách này, chỉ là bổ túc vào
công việc nghiên cứu của những người đi trước. Thiết tưởng còn nhiều tài
liệu khác mà chúng tôi chưa tìm thấy, nhưng hy vọng các nhà khảo cứu sẽ
dần dần đưa ra ánh sáng, hầu hoàn thành công việc quan trọng này.
Sài Gòn, ngày 1 tháng 5 năm 1972.
ĐỖ QUANG CHÍNH
https://thuviensach.vn
LỊCH SỬ CHỮ QUỐC NGỮ
Bàn về lịch sử chữ quốc ngữ từ năm 1620 đến 1659, không có
nghĩa là chúng tôi trình bày hết mọi tài liệu lịch sử liên quan đến vấn đề,
mà chỉ đem ra đây những tài liệu chúng tôi đã khám phá được tận nguồn,
tức là tại các Văn khố và Thư viện. Dựa vào mớ sử liệu đó, chúng tôi xin
trình bày vấn đề qua bốn chương mà chương một được coi như chương mở
đầu cho ba chương kia :
1. Nhận xét của một số người Tây phương về tiếng Việt.
2. Sơ lược giai đoạn thành hình chữ quốc ngữ (1620-1648).
3. Linh mục Đắc Lộ soạn thảo và cho xuất bản hai sách chữ quốc
ngữ đầu tiên năm 1651
4. Tài liệu viết tay năm 1659 của hai người Việt Nam.
https://thuviensach.vn
1. NHẬN XÉT CỦA MỘT SỐ NGƯỜI TÂY
PHƯƠNG VỀ TIẾNG VIỆT
Người cùng một nước nói cùng một thứ tiếng thì ít khi nhận thấy sự
« kỳ lạ » của tiếng mình, bởi vì hằng ngày quá quen với những âm thanh
đó, nên không để ý, trừ khi chịu khó học hỏi, nghiên cứu tiếng nước mình
và đem so sánh với những ngôn ngữ khác. Người Việt chúng ta cũng thế, vì
đã quen với tiếng nước mình từ khi còn nhỏ, nên không để ý đến điều mà
người ngoại quốc thấy khi họ bắt đầu nghe và học tiếng Việt. Trong chương
này, chúng tôi sẽ trình bày nhận xét về tiếng Việt của bốn người Tây
phương sau đây : Cristoforo Borri, Đắc Lộ (Alexandre de Rhodes), Gio.
Filippo de Marini và Joseph Tissanier. Các ông là những người ở Việt Nam
trong khoảng từ 1618 đến 1663, đã học tiếng Việt và đóng góp ít nhiều vào
việc thành lập chữ viết của chúng ta ngày nay. Dưới đây chúng ta sẽ thấy
họ nhận xét thế nào về thanh và ngữ pháp tiếng Việt.
https://thuviensach.vn
THANH TIẾNG VIỆT
1
2
Tháng 12-1624 linh mục Đắc Lộ
từ Áo Môn
đi tầu buôn Bồ Đào
Nha tới cửa Hàn (Đà Nẵng) sau 19 ngày vượt biển và bị bão ở gần đảo Hải
Nam. Tới Đàng Trong, Đắc Lộ đến ở tại Thanh Chiêm (Dinh Chàm), tức là
thủ phủ Quảng Nam Dinh, và học tiếng Việt tại đó. Sau này Đắc Lộ viết : «
Riêng tôi xin thú nhận rằng, khi vừa tới Đàng Trong nghe người Việt nói
chuyện với nhau, nhất là giữa nữ giới, tôi có cảm tưởng như mình nghe
chim hót và tôi đâm thất vọng vì nghĩ rằng không bao giờ có thể học được
3
tiếng Việt » .
Quả thật, đối với người Âu châu, lúc đầu học tiếng Việt thật là khó,
vì họ không phân biệt nổi thanh mỗi tiếng. Linh mục Gio. Filippo de
Marini ở Đàng Ngoài từ 1647-1658, cũng nhận rằng : « Một người sau khi
đã học nói tiếng Việt kha khá, thì kinh nghiệm cho họ hay rằng, tiếng Việt
4
quả là cực kỳ khó khăn » . Linh mục Joseph Tissanier ở Đàng Ngoài từ
1658-1663 cũng ghi lại như sau : « Tôi xin thú nhận rằng, lúc đầu tiếng
Việt làm tôi phát sợ, vì thấy nó khác các ngôn ngữ Âu châu quá, nên hầu
5
như tôi thất vọng trong việc học tiếng này » .
Tuy tiếng Việt khó, nhưng sau một thời gian miệt mài, những người
6
trên đây đã nói và nghe được tiếng Việt. Joseph Tissanier đến Đàng Ngoài
7
ngày 13-4-1658, bốn tháng sau, ông đã có thể tạm « giải tội » và nói
những câu truyện thường với người Việt. Đối với Đắc Lộ, sau mười tháng
8
học, ông đã bắt đầu giảng thuyết . Linh mục C. Borri đến Đàng Trong năm
1618, và qua sáu tháng học tập, ông đã nói truyện và « giải tội » được. Ông
thú nhận rằng, muốn hiểu và nói được tiếng Việt hoàn toàn, phải dành ra
9
bốn năm trọn để học .
https://thuviensach.vn
10
Tiếng Việt tuy khó, nhưng lại « du dương, hòa điệu » « giống như
11
bản nhạc liên hồi » . Borri nói rõ rằng, người nào có tài về âm nhạc, biết
12
phân biệt âm thanh , thì theo ý ông, tiếng Việt là tiếng dễ dàng nhất đối
13
với họ . Marini cho rằng, dường như là dân Việt bẩm sinh đã có một cơ thể
rất chính xác, được điều chỉnh thật đúng và hòa hợp hoàn toàn với trí óc
cùng buồng phổi ; phải nói là, theo tự nhiên, người Việt là nhạc sư, vì họ có
14
tài phát âm một cách nhẹ nhàng và chỉ hơi biến thanh là đã khác nghĩa .
15
Dường như đối với người Việt « nói và hát cũng là một » . Ông Marini nói
thêm : « Khi đọc, người Việt không cần phải thay đổi tiếng mà vẫn làm cho
một tiếng ấy có nhiều nghĩa khác nhau, bởi vì họ chỉ cần lên giọng hoặc hạ
giọng tùy theo cường độ và nhịp điệu. Những người Việt từ nhỏ đã học nói
16
theo nhịp điệu, dầu họ không phải là nhạc sư » .
Theo Đắc Lộ, Marini, Tissanier, thanh tiếng Việt khó vì những lý do
sau đây : Thứ nhất, tất cả mọi tiếng đều là cách ngữ. Thứ hai, cùng một
tiếng phát âm một cách khác nhau, có thể chỉ nhiều nghĩa và thường lại có
nghĩa đối nghịch nhau. Vì thế theo Đắc Lộ, cùng một tiếng như tiếng Daï
chẳng hạn, nếu đọc bằng nhiều cách, thì nó chỉ tới 23 sự vật hoàn toàn khác
17
nhau . Thứ ba, thanh của mỗi tiếng đôi khi rất nhẹ và khá tế nhị. Do đấy, ai
muốn tấn tới trong việc học tiếng Việt, phải chu chu chăm chắm mà học, để
có thể phân biệt được các thanh. Thứ bốn, đây là điểm khó khăn nhất trong
khi dùng tiếng Việt, đó là việc phát âm. Trong khi đọc lên một tiếng, người
ta phải làm thế nào để hơi thở, môi, răng, lưỡi và họng cùng hòa hợp phát
ra một tiếng vừa phải và chính xác. Như vậy thì tiếng vừa phát ra mới chỉ
18
đúng sự việc mình muốn nói .
Hẳn thật những điểm khó khăn trên đây về thanh tiếng Việt, người
Âu châu cảm thấy rõ ràng nhất. Cùng một tiếng, thêm bớt hay là uốn hạ âm
thanh, đều làm cho nghĩa khác nhau. Điều này không thấy ở trong nhiều
tiếng, như La tinh, Bồ Đào Nha, Tây ban Nha, Ý, Pháp, Anh v.v... Chính
L.m. Đắc Lộ khi bàn về thanh tiếng Việt đã cho một số ví dụ và thuật lại
https://thuviensach.vn
vài mẩu chuyện hay hay về việc người Tây phương nói tiếng Việt. Sau đây
là ví dụ của ông :
Trong tiếng ba, nếu thêm thanh huyền sẽ thành chữ bà, thanh hỏi
thành bả, thanh sắc thành bá, thanh nặng thành bạ và thanh ngã thành bã.
Như vậy, sáu thanh (cũng có thể gọi là sáu dấu) trong một tiếng làm khác
hẳn nghĩa mỗi tiếng khi phát âm : ba bà bả [vả] bá bạ bã. Theo lời giải
nghĩa của Đắc Lộ, thì sáu tiếng trên đây hoàn toàn là một câu và có đủ
nghĩa như sau : Ba bà thổi vào mặt (hay tát vào mặt) bà thứ phi đã bị duồng
19
dẫy (bỏ rơi) một thứ cặn thuốc (thuốc độc) . Để bạn đọc hiểu rõ hơn ý
nghĩa câu trên mà Đắc Lộ đã trình bày, chúng tôi tưởng cần phải trích ngay
những định nghĩa về mấy chữ đó do Đắc Lộ ghi trong cuốn Tự điển của
20
ông xuất bản tại La mã năm 1651 :
« Ba : tres : tres, vel tria. ba ngôi : tres pessoas : tres personae.
« Ba, bổ [vổ] tay ba [ca] hát : fazer som com as palmas pera cantar
: plaudere manibus ad canendum.
« Ba, thịt ba rội : carne di porco gorda com camas de magra : caro
suila lardo intersita.
« Bá : bá léy : tomar o que lhe não dão : rapio, is.
« Bá : molher segunda de principe, ou gouernador : concubina
principis viri.
« Bà : auo, Senhora : auia, domina.
« Bà, đức bà : molher de principe, ou Gouernador grande : vxor
principis viri.
« Bà, đân bà : femea : faemina, ae.
https://thuviensach.vn
« Bả, thủ bả : vigia de posta : custos, dis.
« Bả, cái bả : certa peça de seda a modo de canga de cordao :
fericum quoddam in modum panni linei retorti.
« Bạ : vntar : illinire.
« Bạ vàng : dourar : inauro, as.
« Bạ, ai bạ thì ley : cousa que nao tem dono, quemquer a toma : res
pro derelictâ, quae est primo occupantis.
« Bã : bagaço : magma, tis. bã thúoc : o bagaço da meizinha :
magma medicinae jam peractae et sic de aliis rebus.
L.m. Đắc Lộ muốn chứng minh rõ rệt hơn, còn đem ra một ví dụ
khác : Chữ ca, nếu thêm thanh (dấu), có bốn nghĩa khác nhau : ca : hát, cà :
21
trái cà, cả : lớn, cá : con cá . Để người ngoại quốc thấy rõ hơn sự nguy
hiểm trong khi phát thanh sai tiếng Việt, Đắc Lộ thuật lại hai câu chuyện
sau đây : Một hôm L.m. bạn với Đắc Lộ muốn bảo người giúp việc đi chợ
mua cá. Khi người giúp việc ở chợ về, bảo cho ông hay là đã mua như ý
L.m. muốn. Ông liền xuống nhà bếp coi xem loại cá nào, thì ông bỡ ngỡ vì
người đi chợ lại mua một thúng đầy cà. L.m. biết ngay là vì đã đọc trại
tiếng cá thành cà, nên ông xin lỗi người giúp việc. Một L.m. khác bảo
người nhà đi chém tre. Đoàn trẻ em trong nhà L.m. nghe thế sợ quá, bỏ
chạy tán loạn. Thì ra ông phát thanh lầm là chém trẻ, nên làm cho đàn trẻ
em khiếp sợ. Phải giải thích mãi trẻ em mới yên tâm và trở về nhà với Linh
22
mục .
https://thuviensach.vn
NGỮ PHÁP TIẾNG VIỆT
Đối với người Việt Nam học tiếng Việt từ lúc thơ ấu, nên dầu không
cần học ngữ pháp, cú pháp v.v... vẫn có thể nói được tiếng Việt. Nhưng một
người ngoại quốc, lúc bắt đầu học tiếng Việt thật là khó. L.m. Marini nói rõ
một điểm khó khăn nữa đối với người Âu châu khi học tiếng Việt, là phải
hiểu hoàn toàn ý nghĩa của một lời, phải biết sắp đặt cú pháp cho đúng, nếu
không nghĩa mỗi câu sẽ sai lạc hoàn toàn. Sự khó khăn đó là do tiếng Việt
rất ít giống đực cái (hầu như không có), hầu như không có số nhiều ít,
23
không có tận mỗi tiếng, động từ không chia v.v... .
Để trấn tĩnh người Âu châu muốn học tiếng Việt, Marini đưa ra lý lẽ
sau : Trong những ngôn ngữ, dầu về mặt ngữ pháp đơn sơ, người ta vẫn có
nhiều cách bù lại dễ dàng, để có thể đặt thành câu nói viết trôi chảy. Vậy,
nếu tiếng Việt có một ngữ pháp đơn giản sánh với nhiều tiếng Âu châu, thì
họ cũng có cách khác bù đắp lại, mà cách thế dùng nhiều nhất là thể phát
24
âm và trong cách đọc
. Quả thật, vẫn theo Marini, lúc mới học tiếng Việt,
thì nhận thấy mọi cái đều quá lạ thường, làm cho mình lẩn quẩn, rối rít
không biết làm sao đặt cho đúng tiếng trong mỗi câu và phân biệt âm thanh
để hiểu được ý nghĩa. Nhưng rồi, nhờ học hành cẩn thận, giao tiếp nhiều
25
với người Việt, thì những khó khăn đó tan biến dần dần .
Tóm lại, đối với người Âu châu, thì thanh tế nhị và ngữ pháp đơn
sơ
là những khó khăn lớn nhất đối với họ. Khi bàn về tiếng Việt, các tác
giả Tây phương vào thế kỷ thứ 17 đều nhận như thế. Marini còn nhận xét
này : người Việt Nam ưa tiếng của họ hơn ai hết vì tiếng đó đơn giản. Một
tiếng bao hàm rất nhiều nghĩa, còn như tiếng Ý chẳng hạn lại cầu kỳ, lôi
thôi : nếu muốn đọc tiếng Tranquillità thì phải phát ra bốn tiếng, mà chỉ có
một nghĩa, trong khi tiếng Việt chỉ cần một âm là An, cũng có nghĩa như
26
https://thuviensach.vn
chữ Tranquillità của Ý, ấy là chưa nói đến việc chữ An còn có nhiều nghĩa,
27
nếu thêm các dấu .
Trên đây là một số nhận xét về tiếng Việt của mấy Linh mục Dòng
Tên truyền giáo tại Việt Nam cách đây trên ba thế kỷ. Nhữhg nhận xét đó
tuy đơn giản, nhưng cũng chứng tỏ sự quan tâm của các ông về tiếng Việt.
Chính nhờ những nhận xét ấy và nhiều nhận xét khác, mà các ông cùng với
một số Linh mục Âu châu khác cũng sống ở Việt Nam thời đó và sự cộng
tác của các Thày giảng Việt Nam, đã đóng góp kẻ nhiều người ít vào việc
thành lập chữ viết của chúng ta ngày nay.
Bây giờ trong chương liền đây, chúng tôi cũng đứng về phương
diện lịch sử bàn tới sự thành hình chữ quốc ngữ vào giai đoạn đầu tiên, tức
là từ 1620 đến 1648. Về vấn đề này tuy đã có một số nhà nghiên cứu nhắc
28
qua tới , nhưng chúng tôi muốn dành hẳn một chương để trình bày nhiều
tài liệu mới khám phá được, hầu góp phần nào vào công việc quan trọng
này.
https://thuviensach.vn
2. SƠ LƯỢC GIAI ĐOẠN HÌNH THÀNH CHỮ
QUỐC NGỮ (1620-1648)
Chữ Việt ngày nay là một thứ chữ đã được nhiều Linh mục Dòng
Tên ở Việt Nam (với sự cộng tác âm thầm của một số Thầy giảng Việt
Nam) vào thế kỷ 17 sáng tạo ra. Nói một cách tổng quát thì họ đã dùng mẫu
tự La tinh, rồi dựa vào phần nào của chữ Bồ Đào Nha, Ý và mấy dấu Hy
29
Lạp, để làm thành chữ mà chúng ta đang dùng . Chúng ta đều quá rõ là
vào thời ấy, Việt Nam dùng chữ Nho là chính, còn chữ Nôm là phụ thuộc.
Khi các nhà truyền giáo đến Đàng Trong đã bắt đầu áp dụng dần
dần mẫu tự La tinh cho tiếng Việt. Thực ra đây là một cách bắt chước các
nhà truyền giáo Dòng Tên Tây phương ở Nhật Bản. Vì đầu thế kỷ thứ 17,
họ cũng đã cho xuất bản một vài cuốn sách ngữ vựng và ngữ pháp Nhật
30
theo mẫu tự abc .
Sau đây chúng tôi sẽ theo các tài liệu viết tay và cuốn sách của C.
Borri vào đầu thế kỷ thứ 17, sơ lược sự hình thành chữ quốc ngữ qua hai
giai đoạn : 1620-1626 và 1631-1648.
https://thuviensach.vn
GIAI ĐOẠN MỘT : 1620-1626
Theo lịch sử để lại thì vào giữa thế kỷ thứ 16 và nhất là vào cuối thế
kỷ đó, mấy nhà truyền giáo Âu châu, như I Ni Khu, Gaspar da Santa Cruz,
Louis da Fonseca, G. de la Motte, Diego Advarte đã đến miền Hà Tiên và
31
Thừa Thiên ; nhưng hoạt động của các ông không được ghi lại rõ rệt.
Sang đầu thế kỷ 17, các nhà truyền giáo Dòng Tên gồm người Âu
châu và một số ít người Trung Hoa, Nhật Bản, mới chính thức đến truyền
bá Phúc âm ở Việt nam, và hoạt động của các ông đã được ghi lại khá đầy
đủ.
Ngày 6-1-1615, ba tu sĩ Dòng Tên là hai L.m. Francesco Buzomi
32
(Ý), Diego Carvalho (Bồ Đào Nha) và Thầy Antonio Dias (Bồ Đào Nha) ,
đáp tàu buôn Bồ Đào Nha từ Áo Môn đi Đàng Trong và tới Cửa Hàn ngày
33
18-1-1615 . Sau đó mấy tháng các ông đến ở Hội An. Tại đây, nhờ biết
tiếng Trung Hoa và Nhật, nên các ông có thể giao thiệp với kiều dân Hoa
Nhật. Nhân tiện, chúng tôi cũng xin ghi lại mấy dòng lịch sử Hội An thời
ấy.
Theo sự hiểu biết của chúng tôi thì thời đó người Việt gọi Hội An là
Hải Phố, tức là nơi buôn bán ở bờ bể. Khi người Nhật và Trung hoa tới đó
bắt đầu từ cuối thế kỷ 16, Hải Phố là nơi buôn bán sầm uất. Các nhà truyền
giáo tới đây vào năm 1615, nghe người Nhật đọc Hải Phố là Hoaipho,
34
nhưng rồi các ông thường đọc trại Faifo . Người Âu châu viết chữ Hải Phố
bằng nhiều cách : Haifo, Hai fo, Haito, Faifo, Facfo, Fayfo, Fayfô, Fayfó,
Faiso, Taifò, v.v... Tại Hội An, có hai khu riêng biệt, một dành cho người
Trung Hoa, một dành cho người Nhật. Kiều dân Nhật dưới quyền cai trị của
một người Nhật do Chúa Nguyễn bổ nhiệm, Hoa kiều cũng do một người
Trung Hoa cai trị được Chúa Nguyễn bổ nhiệm. Riêng vị chỉ huy người
Nhật lại được Chúa Nguyễn trao cho trách nhiệm về các người Tây phương
https://thuviensach.vn
35
ở Hội An . Theo Borri, thời ấy Đàng Trong có hơn 60 cửa bể, sầm uất nhất
là Hội An, còn hai hải cảng quan trọng thứ nhì là cửa Hàn và Nước Mặn
(Qui Nhơn). Các thương thuyền Trung Hoa, Nhật, Manila, Mã Lai, Cam
Bốt v.v... thường đến ba cửa bể đó.
Ba nhà truyền giáo mà chúng ta vừa nói, đến Hội An với mục đích
đầu tiên là để giúp đỡ giáo hữu Nhật về mặt tôn giáo, và nhờ người Nhật
làm thông ngôn để tiếp xúc với người Việt Nam. Sau năm 1615, nhiều tu sĩ
Dòng Tên khác không những đến truyền giáo ở Đàng Trong mà cả Đàng
36
Ngoài nữa, nhưng đa số là người Bồ Đào Nha .
Các nhà truyền giáo tới Việt Nam thời ấy đều phải học tiếng Việt
mới có thể tiếp xúc với người Việt Nam. Theo chúng tôi biết thì L.m.
Francisco de Pina là người Âu Châu đầu tiên nói thạo tiếng Việt. Pina sinh
năm 1585 ở Bồ Đào Nha, ông tới Đàng Trong năm 1617. Lúc đầu Pina
sống ở Hội An, sang năm 1618 ông ở tại Nước Mặn với Buzomi và Borri.
Hai năm sau, ông trở lại Hội An, rồi năm 1623, Pina đến ở tại Thanh
Chiêm, thủ phủ Quảng Nam Dinh. Pina chết đuối ở bờ bể Quảng Nam ngày
15-12-1625. Dịp đó có tầu Bồ Đào từ Cam Bốt về Áo Môn, bỏ neo ở hải
phận Quảng Nam, Pina cùng một người Việt Nam chèo thuyền ra tầu Bồ
Đào để lấy các đồ phụng tự. Khi thuyền đang đi vào bờ, bị gió bão bất chợt,
lật thuyền Pina. Vì mặc áo dài, Pina không bơi vào được, còn người Việt
kia bơi vào bờ thoát nạn. Sau đó người ta vớt được xác Pina đem về Hội An
37
làm lễ an táng rất trọng thể .
Nhờ biết tiếng Việt, nên ngay từ năm 1620 các tu sĩ Dòng Tên tại
38
Hội An đã soạn thảo một sách giáo lý bằng « chữ Đàng Trong » tức là
39
chữ Nôm . Cuốn sách này vì soạn bằng chữ Nôm, nên chắc phải có sự
cộng tác của người Việt.
Nhưng chúng tôi tưởng cuốn này cũng được viết bằng chữ Việt mới
nữa (chữ quốc ngữ ngày nay), mà người có công soạn thảo là L.m.
https://thuviensach.vn
Francisco de Pina vì lúc đó chỉ có ông là người Âu châu thạo tiếng Việt
nhất. Chúng tôi đoán rằng, cuốn sách này không được in (in theo kiểu Việt
Nam thời đó), mà chỉ chép tay. Có lẽ lúc ấy người Công giáo ở Hội An,
Quảng Nam... chép tay bản chữ Nôm để dùng, còn các nhà truyền giáo lại
chép sang mẫu tự abc. Nếu đúng thế thì đây là cuốn sách Việt Nam đầu tiên
bằng mẫu tự La tinh. Tiếc rằng ngày nay không còn thấy cuốn giáo lý trên
dầu là bản chữ Nôm hay chữ quốc ngữ.
Theo sự nhận xét của chúng tôi thì vào năm 1620 dù L.m. Pina đã
nói được tiếng Việt, nhưng khó lòng mà phân biệt được lối cách ngữ như
chúng ta dùng ngày nay. Dựa vào những tài liệu viết tay năm 1621-1626,
chúng tôi biết được hầu hết các chữ còn viết liền và chưa thấy đánh dấu
vào những chữ đó. Chính dựa theo hai đặc điểm này mà chúng tôi cho là
giai đọan sơ khởi chữ quốc ngữ. Bây giờ chúng tôi xin trình bày 7 tài liệu
để chứng minh.
Tài liệu viết tay năm 1621 của João Roiz
Đây là bản tường trình hằng năm của Tỉnh Dòng Tên Nhật Bản, mà
L.m. Giám sát ủy cho L.m. João Roiz dựa theo các báo cáo ở Đàng Trong
soạn thảo, để gởi cho L.m. Mutio Viteleschi, Bề trên Cả Dòng Tên ở La
Mã. Tài liệu soạn bằng tiếng Bồ Đào Nha, gồm 15 tờ tức 30 trang kể cả
trang bìa. Chữ viết trung bình, không lớn quá cũng không nhỏ quá, trong
khổ 14 X 22 cm. Tường trình này biên soạn tại Áo Môn ngày 20-11-1621.
Tài liệu chia ra ba phần rõ rệt : Phần mở đầu gồm 6 trang ; Phần thứ hai
gồm 8 trang ghi lại những hoạt động của các tu sĩ Dòng Tên tại Hội An và
phụ cận với đầu đề : « Residencia de Faifô na Provincia de Cacham » (Cư
sở Hội An trong tỉnh Cacham [Quảng Nam] ; phần thứ ba gồm những trang
còn lại viết về những kết quả truyền giáo ở Nước Mặn, với đầu đề : «
Residencia de Nuocman na provincia de Pulo Cambi » (Cư sở Nước Mặn
40
trong tỉnh Pulo Cambi [Qui Nhơn]) . Dưới đây là những chữ quốc ngữ
trong tài liệu :
https://thuviensach.vn
41
Annam
: An Nam.
42
Sinoa
: Xứ Hóa, tức Thuận Hóa.
43
Unsai : Ông Sãi.
44
Cacham
: Ca chàm (kẻ Chàm hay Thạnh Chiêm), là thủ phủ
Quảng Nam Dinh, ở về phía Tây Hội An ngày nay. Dân chúng thời ấy cũng
gọi Kẻ Chàm là Dinh Chàm.
Ungue : Catecismo fez o Pe ao Ungue nosso amigo, ea (?) outros
45
muitos assi Christaõs como gentios, que concorrerão aouuilo [a ouvido]
(Một Cha dạy giáo lý cho ông Nghè, ông là người bạn thân của chúng tôi,
và Cha đó cũng dạy giáo lý cho nhiều giáo hữu cùng lương dân tuốn đến
nghe giảng).
Chữ Ungue tức Ông Nghè được tác giả viết liền lại chứ không viết
cách ngữ như chúng ta ngày nay. Chúng ta đều biết, Ông Nghè là một danh
từ bình dân dùng để gọi các vị Tiến sĩ. Còn danh từ Ông Nghè Bộ, mà
chúng ta thấy trong các tài liệu viết tay cũng như trong sách truyền giáo của
nhiều nhà truyền giáo Tây phương ở Việt Nam vào thế kỷ thứ 17, là một
chức quan ở các Dinh (Tỉnh) Đàng Trong, có nhiệm vụ lo việc thuế má và
tài chính. Thực ra, chức vị của ông này là Cai bạ, một trong ba quan (Đô
tri, Cai bạ, Nha úy) làm việc trực tiếp dưới quyền viên Trấn thủ của mỗi
dinh. Tiện đây cũng nên biết các nhà truyền giáo Tây phương viết chữ Ông
Nghè hoặc Ông Nghè
Bộ dưới nhiều hình thức khác nhau :
Gaspar LUIS, Cocincinensis missionnis annuae Litterae anni 1260,
ARSI, JS. 71 :
Unguè (f. 23v), Ungué (f. 24v).
BORRI, Relation de la nouvelle mission des Pères de la Compagnie
de Jésus, Lille, 1631 : Omgné (tr. 182).
https://thuviensach.vn
RHODES, Histoire du Royaume de Tunquin, Lyon, 1651 : Oun ghe
(tr. 170).
RHODES, Relation des progrès de la foi au royaume de la
Cochinchine, Paris, 1652 : Ouenglebo (tr. 43), Onghebo (tr. 44).
RHODES, Divers voyages et missions, Paris, 1653 : Onyhebo (tr.
123), Oun Gueh (tr. 183), Ongehbo (tr. 203), Ongehbo (tr. 203), Ou-ngesbo (tr. 206), Oun ghebo (tr. 212), Oun-ges-bo (tr. 226).
Metelle SACCANO, Relation des progrès de la foi au royaume de
la Cochinchine dés années 1646 et 1647, Paris, 1653 : Onguebo (tr. 133).
Maurus de Sa. MARIA, Thư viết tại cửa Hàn ngày 2-8-1698, gửi
cho L.m. J. - A. Arnedo, ARSI, JS. 70 : Oũ ngè bộ (f. 264r).
Emmanuel FERREYRA, Noticias summarias das perseguicoẽs da
missam de Cochinchina, Lisboa, 1700 : Oum Nhembo (tr. 52), Oum Nhebo
(tr. 53), Ou Nhebo (tr. 54).
Sau khi chúng ta tìm hiểu lối viết chữ Ông Nghè của các tác giả trên
đây, bây giờ chúng ta tiếp tục trích ra những chữ quốc ngữ trong bản tường
trình của João Roiz :
46
Ontrũ
: Ông Trùm, là một người đứng đầu Xứ đạo.
47
Nuocman : Nước mặn, một thành phố xưa ở phía Bắc Qui Nhơn
48
ngày nay chừng 20 cs. Một số bản đồ thế kỷ thứ 19 còn ghi địa danh này .
49
Bafu
: Bà Phủ, tức là vợ quan phủ Qui Nhơn vào năm 1618. Nên
nhớ lúc đó Qui Nhơn mới chỉ là một Phủ giáp với lãnh thổ Chiêm Thành.
50
Sai Tubin
: Sãi Từ Bình (?).
https://thuviensach.vn
51
Banco : Bàn cổ một « thần » khổng lồ tạo dựng vũ trụ, con người.
Hồi xưa dân Việt Nam theo thần thoại Trung Hoa nghĩ như thế.
52
Oundelim
: Ông Đề lĩnh.
Tài liệu viết tay năm 1621 của Gaspar Luis
Cùng năm 1621, L.m. Gaspar Luis cũng viết một bản tường trình về
giáo đoàn Đàng Trong gửi cho L.m. Mutio Vitelleschi ở La Mã. Nội dung
bản tường trình này cũng không khác của João Roiz. Tuy nhiên, bản của
Luis lại soạn thảo bằng La ngữ và vắn hơn bản của Roiz. Tài liệu gồm tám
trang rưỡi, viết chữ cỡ trung bình, trong khổ 12 X 20 cm. Tác giả soạn tài
53
liệu này tại Áo Môn ngày 12-12-1621
. Gaspar Luis nhắc đến ít danh từ
Việt hơn Roiz. Nếu có dùng vài ba chữ Việt, thì lại cũng viết giống như
Roiz, ví dụ : Cacham, Nuocman, trừ hai chữ sau đây Luis viết khác Roiz :
54
Ungue và Ungué
: Ông nghè.
55
Bancô
: Bàn cổ.
Tài liệ...
 





