TRÍCH DẪN TRONG SÁCH

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ HIỆU ỨNG LẬT SÁCH

HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ THƯ VIỆN THPT NGUYỄN THỊ MINH KHAI

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH HAY CỦA THƯ VIỆN

VĂN HỌC - CẢM NHẬN TÁC PHẨM

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    THÔNG BÁO

    LỊCH MƯỢN ĐỌC TẠI THƯ VIỆN

    Ảnh ngẫu nhiên

    BANDOKINHTE.jpg Gioi_han_sinh_thai_xuong_rong.png Gioi_han_sinh_thai_cua_tam.png Gioi_han_sinh_thai_ca_ro_phi.png HB_NHOMNUOC.jpg HB_MDDS.jpg Ban_do_cac_nuoc_Dong_Nam_A.jpg TDMNPB_tunhien.jpg Dctna.jpg Tntna.jpg BANDOTUNHIEN.jpg

    KIẾN THỨC LỊCH SỬ - TỰ HÀO VIỆT NAM

    .💕💕Thư viện không phải là nơi để ghé qua trong vội vã, mà là nơi yên bình ta chọn dừng chân giữa bộn bề cuộc sống. Nơi đây, mỗi cuốn sách đều như một mảnh ghép của thời gian, gói ghém những tri thức và câu chuyện của biết bao thế hệ💕💕

    TRƯỜNG THPT NGUYỄN THỊ MINH KHAI (ĐỨC THỌ) 50 NĂM NIỀM TIN VÀ KHÁT VỌNG

    duong-bac-ho-di-cuu-nuoc

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Thị Hồng
    Ngày gửi: 15h:22' 17-03-2024
    Dung lượng: 1.3 MB
    Số lượt tải: 2
    Số lượt thích: 0 người
    Thông tin sách gốc
    Tác phẩm: Đường Bác Hồ đi cứu nước
    Tác giả:
    Nhà xuất bản: Thanh Niên
    Năm tác phẩm ra đời: 1975
    Số trang: 365 trang (in trên khổ giấy A5)

    Thông tin ebook
    Đội ngũ đánh máy: Như
    Hảo, alpah8x, kzak27,silence00,tulipviet,hhongxuan.

    Đội ngũ soát lỗi chính
    tả: dtpmai189,suongdem,hhongxuan,teddy_M,Lannua2003, ngankh
    Thể loại: Văn học Sử
    Ngày hoàn thành: 17/10/2015
    Người chế bản: Zhiqiang
    Nguồn sách gốc: dangtuanpr
    Ebook này được thực hiện theo dự án “SỐ HÓA 1000 QUYỂN
    SÁCH VIỆT MỘT THỜI VANG BÓNG” của diễn đàn TVE4U.ORG
    Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com

    Mục lục
    Lời tựa
    ĐƯỜNG BÁC HỒ ĐI CỨU NƯỚC ​
    Hồ Chủ tịch hình ảnh dân tộc
    Làm bất cứ việc gì để sống và để đi ​
    Bản yêu sách của nhân dân Việt Nam ​
    Sống, làm việc gian khổ để học tập và hoạt động ​
    Trong ngõ hẻm Công Poanh
    Ở Đại hội Tua
    Lời phát biểu tại đại hội Tua
    Gặp “con cáo già” thuộc địa
    Đến Tổ quốc xã hội chủ nghĩa đầu tiên
    Sáng lập Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí Hội
    Trở về Tổ quốc cách mạng
    LỜI KÊU GỌI [8]
    "Vụ án" ở Hương Cảng
    Trở lại đất nước Xô viết.
    Trên đường về nước qua Trung Quốc.
    Từ Vân Nam – Tĩnh Tây về Pắc Bó
    Bị Quốc dân đảng Trung Quốc bắt
    Về Tân Trào
    Một thời đại mới của dân tộc

    Lời tựa
    Đường Bác Hồ đi cứu nước là một tập hợp các câu chuyện
    về con đường Bác Hồ đi cứu nước từ khi rời bến cảng nhà
    rồng cho đến lúc Bác về với cây đa Tân Trào. Đến với cuốn
    sách bạn sẽ thấy những ngày gian khổ của Bác và các đồng
    chí của mình khi tìm lối thoát cho dân tộc khỏi bị áp bức. Các
    câu chuyện được trình bày dung dị nhưng toát lên được tinh
    thần của vị cha già dân tộc.
    Một cuốn sách lịch sử nhưng không hề khô khan, bạn sẽ phải
    phì cười khi biết Bác và các đồng đội của mình tìm được một
    chỗ ẩn náu lý tưởng trong màn sương nhưng đến khi sương
    tan mới biết mình đang ở giữa cánh đồng lớn. Và còn rất
    nhiều những cậu chuyện khác không kém phần thú vị khác
    chờ đón bạn khám phá.

    ĐƯỜNG BÁC HỒ ĐI CỨU NƯỚC ​

    “Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ
    Chủ tịch, người anh hùng dân tộc vĩ đại, và chính Người đã
    làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta và non sông đất nước
    ta”.
    Trích: “Điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao
    động Việt Nam do đồng chí Lê Duẩn Bí thư thứ nhất, đọc tại
    lễ truy điệu trọng thể Hồ Chủ tịch”.

    Hồ Chủ tịch hình ảnh dân tộc
    “Bình sinh Hồ Chủ tịch là người rất giản dị, lão thực, vĩ nhân
    thật vĩ nhân bao giờ cũng giản dị lão thực. Đã cầu kỳ là thiếu
    bản lĩnh, cố làm trò để đánh lừa thiên hạ và hậu thế. Vua
    Nghiêu, vua Thuấn, Chúa Giê-du là những người giản dị, lão
    thực. Ông Lê-nin, ông Tôn Văn, thánh Găng-đi cũng là người
    giản dị lão thực. Bậc đại khoa hoặc đại văn hào cũng vậy.
    Trái lại Hít-le là một kẻ gian hung. Còn bên cạnh Hít-le, Mútxô-li-ni chỉ là một thằng hề.
    Xem một đôi bức ảnh Hồ Chủ tịch, có người nói mắt Người có
    hai con ngươi, và tin rằng vì chỗ đó, Người là một ông thánh.
    Làm gì có chuyện hoang đường như thế! Mắt Hồ Chủ tịch
    cũng như mắt mọi người sáng hơn mắt mọi người nhiều lắm
    đã đành, nhưng sáng hơn vì Người biết nhìn, nên nhìn thấy
    những cái mọi người không nhìn thấy; hiện tại, tương lai, cái
    nhỏ, cái to.
    Hồ Chủ tịch là người Việt Nam, Việt Nam hơn Việt Nam nào
    hết. Ngót ba mươi năm bôn tẩu bốn phương trời, Người vẫn
    giữ thuần túy, phong độ, ngôn ngữ, tính tình của người Việt
    Nam. Ngôn ngữ của Người phong phú, ý vị như ngôn ngữ
    người dân quê Việt Nam; Người khéo dùng tục ngữ, hay nói
    ví, thường có lối châm biếm kín đáo và thú vị. Làm thơ,

    Người thích lối ca dao, vì ca dao là Việt Nam cũng như núi
    Tràng Sơn, hồ Hoàn Kiếm hay Đồng Tháp Mười vậy. Mấy
    mươi năm xa cách quê hương, Người không quên mùi vị
    những thức ăn đặc biệt Việt Nam như cà muối, dưa chua,
    tương ớt, và ngày thường bây giờ, Người vẫn ưa thích những
    thứ ấy. Ngay sau khi về nước, gặp Tết, Người không quên
    mừng tuổi đồng bào hàng xóm và quà bánh cho trẻ em, tuy
    chỉ có mấy đồng xu nhưng cũng bọc giấy hồng đơn cẩn thận,
    tiêm tất. Bình sinh như thế, đứng địa vị Chủ tịch chính phủ
    kháng chiến kêu gọi quốc dân, Người dùng những lời nói
    thống thiết đi sâu vào tâm hồn Việt Nam: “Nhiễu điều phủ
    lấy giá gương, người trong một nước thì thương nhau cùng”.
    Lối ăn ở của Hồ Chủ tịch giản dị như thế nào, chúng ta đã
    từng biết. Lúc ở chiến khu, Người sống chung với anh em
    trong một cơ quan, làm việc, học tập, ăn ở, sinh hoạt nhất
    nhất như anh em. Có những lúc vì gạo thiếu hay khí hậu
    nặng, cần ăn ít một chút Người cũng vui vẻ chịu đựng cùng
    anh em. Kể ra Người có chỗ được biệt đãi: Đó là bát nước
    cơm mà anh Lộc, đồng chí cấp dưỡng lành nghề và thân mến
    của chúng tôi lúc ấy, bao giờ cũng để dành riêng cho Người
    từ biên giới Cao Bằng cho đến Tân Trào, trước khi về Hà Nội.
    Ở Hà Nội Chủ tịch Chính phủ có phòng làm việc, phòng tiếp
    khách, nhiều khi chủ tọa những bữa tiệc long trọng, nhưng
    bình thường ngày hai bữa, Chủ tịch chính phủ cùng nhân
    viên đều ăn chung. Nhiều lần, vì đến quá trễ, thức ăn không
    còn gì Hồ Chủ tịch vẫn vui cười ăn đủ mấy bát cơm thường
    lệ.
    Người vẫn thích đi bộ, tắm sông, hút thuốc lá và thỉnh
    thoảng uống một ly rượu thuốc trong bữa cơm. Trước đây,
    Người đi bộ một ngày 50 cây số là thường và có thể đi như
    thế ngày nọ qua ngày kia. Lúc ở Côn Minh, sáng nào Người
    cũng đi bộ một vòng quanh thành phố. Ở Liễu Châu, mùa
    đông, một hôm tướng Trương Phát Khuê đi ngựa dạo buổi
    sớm gặp Người tắm trên sông, Trương tướng quân lấy làm lạ
    một người ở phương Nam Á Châu chịu rét giỏi đến thế. Ở
    Cao Bằng, có lúc cơ quan đóng tại một cái suối lớn vừa ở
    trong hang đá chảy ra, nước trong xanh biếc dưới bóng mát

    của rừng cây; Hồ Chủ tịch suốt ngày làm việc ở đó với cái
    bàn máy đánh chữ “Hét mét” luôn luôn đi theo Người từ năm
    1938 đến khi về Hà Nội.
    Ở rừng, Hồ Chủ tịch chủ trương tránh ăn no, không ngủ trưa
    và hoạt động thân thể, buổi sáng thể dục, buổi chiều làm
    vườn, lúc cần đi vác củi cho đồng bào. Suốt trong thời gian ở
    thượng du Bắc Bộ, trước cuộc khởi nghĩa, nhiều ngày Người
    luôn tay nắn hòn đá bầu dục, cốt để luyện gân tay và hoạt
    động cơ thể. Người ít ưa dùng thuốc, chỉ có lúc nào sức cơ
    thể chống không nổi bệnh mới dùng. Ở Hà Nội, bác sĩ Tùng,
    bác sĩ Cẩn chuyên lo sức khỏe của Người nhưng không mấy
    khi Người phiền đến. Ở Pháp, anh em buộc bác sĩ Cưu ở bên
    cạnh Người nhưng rồi bác sĩ làm việc văn phòng nhiều hơn
    thầy thuốc. Sinh hoạt chiến khu thường cực lắm, có lần suốt
    mấy tháng mùa mưa Hồ Chủ tịch ở trong một cái hang chật
    hẹp ẩm thấp, ban đêm sâu bọ ở ngoài tràn vào. Lúc ấy vì cơ
    sở quần chúng kém, nên phải ẩn nấp trong hang cùng, và
    cũng vì cơ sở quần chúng kém, nên dẫu ẩn nấp trong hang
    cùng mà cũng không yên, thường vẫn phải chạy “cảnh báo”.
    Hễ có “cảnh báo” là phải mang hết đồ đạc chạy lánh đến một
    chỗ an toàn hơn. Lúc ấy Hồ Chủ tịch yếu, nhưng bất kỳ đêm
    ngày, hễ có tin địch là mấy phút sau Người đã sẵn sang
    trước anh em, tay xách bàn máy đánh chữ.
    Lúc đến Pháp, ngay hôm gặp đầu tiên, lối ăn ở giản dị của
    Hồ Chủ tịch làm cho kiều bào rất cảm động. Hôm ấy, tại Bia-rít, đại biểu kiều bào đến thăm Người, hồi hộp và sung
    sướng. Khách đông phòng khách không đủ ghế ngồi, giản dị
    Hồ Chủ tịch ngồi xuống sàn và mời mọi người ngồi thế nói
    chuyện. Đây không phải vị Chủ tịch chính phủ, đây là cha già
    của dân tộc ân cần và thân mật hỏi thăm đàn con bao năm
    lưu lạc ở quê người.
    Hồ Chủ tịch, người giản dị ấy, cũng là người lịch sự một cách
    thanh tao cao quí và mọi người ngoại quốc có dịp tiếp
    chuyện Người đều ca ngợi cái phong độ thanh tao cao quí mà
    họ cho là đặc sắc của phương Đông. Ở chiến khu, trong cơ
    quan, Hồ Chủ tịch thường mặc một bộ đồ xanh, chân đi đất;

    về Hà Nội, Người mặc một bộ đồ kaki, chân đi giầy vải.
    Nhưng sang Pháp thì Người mang giầy da và mặc một bộ đồ
    nỉ, cổ đứng. Ở Ba-lê có ngày Hồ Chủ tịch tiếp luôn ba bữa
    cơm khách, bữa sáng với bạn thân, bữa trưa với khách
    thường, bữa tối với khách đặc biệt, mỗi bữa có khi kéo dài
    ba tiếng đồng hồ, nhưng Hồ Chủ tịch thủy chung vẫn ân cần
    niềm nở.
    Hồ Chủ tịch rất vui tính, vì vốn có cái tính lạc quan của
    những người quyết chiến quyết thắng ngày nay và quyết
    tâm xây đắp đời sống tốt đẹp cho dân tộc ngày mai. Trong
    những bữa cơm, tiệc trà thân mật giữa nhân viên cao cấp
    chính phủ, Hồ Chủ tịch vui thú, nói chuyện, làm thơ, khôi
    hài. Một đôi khi, Người thoạt đến những buổi dạ hội tưng
    bừng ở nhà Hát lớn Hà Nội, các cháu thiếu nhi quây quần lại,
    nhưng một lát sau, Người nhẹ bước biến đi đâu mất. Người
    thích hoa và có kể câu chuyện ở Nga cũng như ở các nước
    Âu Mỹ, người ta dùng phi cơ chở các thứ hoa ở xa về để
    trang điểm đời sống hang ngày cả đô thị lớn. Nhưng trong
    vườn hoa Chủ tịch phủ, hoa ngày càng nhường chỗ cho
    khoai, bắp. Gần Côn Minh, có núi Tây Sơn, một thắng cảnh
    có tiếng; một hôm anh em muốn đi xem, Hồ Chủ tịch bảo:
    “Nếu tiện lắm sẽ hay; chúng ta là người cách mạng chứ
    không phải kẻ du lịch.”
    Đời sống Hồ Chủ tịch là một đời sống khắc khổ, cần lao và
    tranh đấu. Người lãnh tụ của một dân tộc mất nước không
    thể có một đời sống khác. Phải khắc khổ, cần lao và tranh
    đấu để mưu cầu hạnh phúc ngày mai. Có người e đời sống
    nghiêm khắc ấy không còn chỗ cho tình cảm. Nhưng chính
    Hồ Chủ tịch thường nói người cách mạng là người rất giàu
    tình cảm, và vì giàu tình cảm nên làm cách mạng. Người mà
    cả dân tộc tôn làm vị cha già của mình phải có lòng thương
    mênh mông xúc động đến tâm can của mọi người. Trong thời
    kỳ bí mật, phút mặc niệm chiến sĩ cách mạng là lúc Hồ Chủ
    tịch rơi nước mắt. Tại Quốc Hội Hồ Chủ tịch vừa khóc vừa ôm
    hôn anh Nguyễn Văn Tạo sau khi anh đọc một bài diễn văn
    thống thiết về Nam Bộ.

    Người xưa nói: Có việc phải lo, lo trước thiên hạ, có việc
    đáng vui vui sau thiên hạ, Hồ Chủ tịch nói một cách giản dị
    và thống thiết hơn: “Một ngày đồng bào còn chịu khổ là một
    ngày tôi ăn không ngon; ngủ không yên.”
    Câu nói đó đã bộc lộ tâm trạng Người, mối tình cảm ruột thịt
    bao bọc trăm họ của đại gia đình Việt Nam.
    Đối với người giản dị và lão thực ấy một câu nói là một việc
    làm và có làm thì mới nói. Giản dị và lão thực trong sự ăn ở,
    tính tình, trong lời nói, viết. Người cũng giản dị và lão thực
    trong chủ trương chính trị nữa. Dân tộc Việt Nam bây giờ
    muốn gì? Muốn thống nhất, độc lập, muốn no ấm, muốn biết
    chữ, muốn đời sống bớt tối tăm. Cho nên Hồ Chủ tịch chủ
    trương: đoàn kết kháng chiến, tăng gia sản xuất, bình dân
    học vụ, đời sống mới. Dân tộc Việt Nam quyết tâm và mỗi
    ngày tiến mạnh trên con đường sống còn sau lưng Hồ Chủ
    tịch.
    Hồ Chủ tịch thật là hiện thân của dân tộc Việt Nam và mọi
    người Việt Nam đều thấy mình trong Hồ Chủ tịch.
    Sức mạnh của Hồ Chủ tịch và sức mạnh của dân tộc Việt
    Nam là ở chỗ đoàn kết thống nhất ấy…”

    Tháng 8-1948 PHẠM VĂN ĐỒNG
    (Trích bài “Hồ Chủ tịch hình ảnh dân tộc”; in trong cuốn: Hồ
    Chủ tịch lãnh tụ của chúng ta, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội,
    năm 1967).

    Làm bất cứ việc gì để sống và để đi ​
    “Khi Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là người thiếu niên 15 tuổi.
    Người thiếu niên ấy đã sớm hiểu biết và rất đau xót trước
    cảnh thống khổ của đồng bào. Lúc bấy giờ, Anh đã có chí
    đuổi thực dân Pháp, giải phóng đồng bào. Anh đã tham gia

    công tác bí mật, nhận công việc liên lạc. Anh khâm phục các
    cụ Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Phan Chu Trinh và
    Phan Bội Châu, nhưng không hoàn toàn tán thành cách làm
    của một người nào. Vì:
    Cụ Phan Chu Trinh chỉ yêu cầu người Pháp thực hiện cải
    lương. Anh nhận điều đó là sai lầm, chẳng khác gì đến xin
    giặc rủ lòng thương.
    Cụ Phan Bội Châu hy vọng Nhật giúp đỡ để đuổi Pháp. Điều
    đó rất nguy hiểm, chẳng khác gì “đưa hổ cửa trước, rước beo
    cửa sau”.
    Cụ Hoàng Hoa Thám còn thực tế hơn, vì trực tiếp đấu tranh
    chống Pháp. Nhưng theo lời người ta kể thì cụ còn nặng cốt
    cách phong kiến.
    Anh thấy rõ và quyết định con đường nên đi. Cụ Phan Bội
    Châu vào bậc chú của Anh. Cụ Phan Bội Châu muốn đưa anh
    và một số thanh niên sang Nhật. Nhưng Anh không đi. Anh
    muốn làm gì?
    Một vị trí thức ở Sài Gòn kể lại cho tôi:
    “Trong khi còn học ở trường Chasseloup-Laubat, tôi gặp một
    người thanh niên ở Trung Bộ vào Sài Gòn, ở nhà một người
    bạn. Vì cùng một lứa tuổi, cho nên chúng tôi lập tức trở nên
    đôi bạn thân. Tôi đưa anh đến trước tiệm cà phê của Pháp
    xem đèn điện, xem chiếu bóng và máy nước. Những cái đó,
    trước kia anh chưa hề thấy.
    Một hôm tôi mời anh ăn kem. Anh rất lạ. Lần đầu tiên anh
    mới nếm mùi kem.
    Sau ít hôm, anh đột nhiên hỏi tôi: “Anh Lê, anh có yêu nước
    không.”
    Tôi ngạc nhiên và đáp: “Tất nhiên là có chứ!”
    - Anh có thể giữ bí mật không?

    - Có
    - Tôi muốn đi ra ngoài, xem nước Pháp và các nước khác.
    Sau khi xem xét họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng
    bào chúng ta. Nhưng nếu đi một mình, thật ra cũng có điều
    mạo hiểm, vì như khi đau ốm… Anh muốn đi với tôi không?
    - Nhưng bạn ơi, chúng ta lấy đâu ra tiền mà đi?
    - Đây, tiền đây.- Anh bạn của tôi vừa nói vừa giơ hai bàn
    tay. – Chúng ta sẽ làm việc. Chúng ta sẽ làm bất cứ việc gì
    để sống và để đi. Thế thì anh cùng đi với tôi chứ?
    Bị lôi cuốn vì lòng hăng hái của anh, tôi đồng ý.
    Nhưng sau khi suy nghĩ kỹ về cuộc phiêu lưu, tôi không có
    đủ can đảm để giữ lời hứa.
    Vài ngày sau, tôi không gặp lại anh bạn nữa. Tôi đoán là anh
    ta đã đi ngoại quốc. Anh ta đi bằng cách nào? Tôi không
    biết. Về sau, tôi chỉ biết người thanh niên yêu nước đầy nhiệt
    huyết ấy là cụ Nguyễn Ái Quốc, là Hồ Chủ tịch của chúng ta
    ngày nay.
    Chính ông Mai ở Hải Phòng, nhân viên cũ trên một chiếc tàu
    Pháp của hãng “Vận tải hợp nhất” đã cho chúng tôi biết
    những điều mà ông Lê không rõ.
    Ông Mai kể lại:
    Vào khoảng giữa năm 1911 hay 1912 – Tôi không nhớ đúng
    nữa – tôi làm việc ở phòng ăn của các sĩ quan trên tàu. Tàu
    chúng tôi cập bến Sài Gòn để lấy hàng và đón khách.
    Một buổi trưa, một người trai trẻ lên tàu. Sau một phút ngập
    ngừng anh ta hỏi xin việc.
    Chúng tôi trả lời là không có việc gì và có chăng nữa, chúng
    tôi cũng không có quyền nhận anh ta.

    Chúng tôi cười vì chàng trai có vẻ một anh học trò không
    phải là người lao động như chúng tôi. Chúng tôi nói nhỏ với
    nhau: “Một người như thế có thể làm công việc gì trên tàu?”
    Tôi không hiểu tại sao tôi thấy thương hại anh ta và tôi nói:
    “Đi theo tôi, tôi sẽ dẫn anh đến gặp chủ tàu. Có lẽ ông ta sẽ
    có việc cho anh làm”.
    Chủ tàu hỏi: “Anh có thể làm việc gì?”
    - Tôi có thể làm bất cứ việc gì! Chàng trai trả lời.
    - Được, ta sẽ lấy anh làm phụ bếp. Sáng mai anh đến đây
    nhận việc.
    Chàng trai ấy xưng tên là Ba. Vì tôi đã giúp anh ta việc nhỏ
    ấy, cho nên anh ta rất thân với tôi, và cũng vì anh ta rất dễ
    yêu nên tôi cũng rất thân với anh ấy. Việc gì tôi làm được là
    tôi cố làm để giúp anh ta, vì anh ta chưa biết làm gì cả. Vả
    lại, anh ấy có can đảm và nhẫn nại. Phụ bếp trên tàu, mỗi
    ngày anh ta phải làm: từ bốn giờ sáng, quét dọn sạch sẽ nhà
    bếp lớn trên tàu, rồi đốt lửa trong các lò. Sau đó đi khuân
    than, rồi xuống hầm lấy rau, thịt, cá, nước đá v.v… Công
    việc khá nặng nhọc vì dưới bếp rất nóng và trong hầm rất
    rét, nhất là khi vừa phải vác một bao nặng vừa leo lên
    những bậc thang trong khi tàu tròng trành.
    Xong công việc ấy, phải dọn cho bọn chủ bếp Pháp ăn. Sau
    đấy, nhặt rau, rửa chảo nồi và đun lò lại. Công việc kéo dài
    suốt ngày.
    Nhà bếp lo ăn cho 7, 8 trăm người cả nhân viên và hành
    khách. Có nhiều cái chảo bằng đồng lớn và nặng quá đến nỗi
    anh Ba phải kéo lê trên sàn. Và những cái nồi cao quá anh
    phải leo lên ghế để chùi nồi. Luôn luôn nghe tiếng:
    - Ba, đem nước đây!
    - Ba, đem chảo đi!

    - Ba, thêm than chỗ này, thêm than chỗ kia!
    Suốt ngày, anh Ba dầm nước, hơi và mồ hôi, mình đầy bụi
    than. Người ta thấy anh Ba phải dùng hết tinh thần và sức
    lực để làm cho xong công việc. Và hơn nữa vì chưa quen
    việc, anh phải gọt xong đống củ cải và khoai tây. Anh không
    biết làm thế nào. Tôi dạy cho anh. Tôi còn nhớ một lần phải
    gọt măng tây. Đây là lần đầu tiên anh Ba thấy măng tây.
    Anh ta bắt đầu gọt trơ trụi, thì vừa lúc tôi đến. Tôi hối hả
    quẳng xuống bể tất cả măng đã gọt và tôi bầy cho anh ta
    phải làm như thế nào. Nhờ thế không xảy ra việc gì.
    Mỗi ngày, 9 giờ tối, công việc mới xong. Anh Ba mệt lử.
    Nhưng trong khi chúng tôi ngủ hoặc đánh bài, anh Ba đọc
    hay viết đến 11 giờ hoặc nửa đêm. Về thứ bậc anh Ba là
    người dưới chúng tôi, chúng tôi là những người có chức vị,
    còn anh Ba thì là người phụ bếp. Nhưng vì anh Ba hiểu biết anh giúp những người bạn mù chữ của tôi viết thư về cho gia
    đình họ, và anh không bao giờ nói tục - vì vậy anh Ba được
    tất cả chúng tôi yêu mến.
    Một lần, dọc đường, anh Ba suýt chết đuối. Bể nổi sóng. Làn
    sóng to như những quả núi chồm lên đổ xuống. Hầu hết mọi
    người say sóng. Như mọi ngày, anh Ba đi lên đi xuống từ
    bếp xuống hầm. Không thể vác những rổ rau lên vai vì tàu
    tròng trành, anh phải buộc rổ rau vào dây sắt để kéo đi,
    chuyến thứ hai một ngọn sóng lớn thình lình phủ lên sàn tàu
    và cuốn xuống bể mọi vật trên sàn tàu. Cả những rổ rau và
    anh Ba nữa. Anh bị đẩy vào giữa cột buồm và dây xích, nhờ
    vậy mà thoát chết.
    Cái gì đối với anh Ba cũng mới, anh phải học tất cả. Ví dụ
    mới đầu anh không ăn được bánh mì và bơ. Ăn xúp thì anh
    dùng nỉa.
    Vài ngày sau tàu rời bến, có hai hành khách - hai người lính
    trẻ tuổi giải ngũ trở về Pháp. Tôi không hiểu tại sao hai anh
    này đã trở nên bạn thân của anh Ba. Họ giúp anh nhặt rau
    và buổi tối họ cho anh mượn những quyển sách nhỏ, dạy cho

    anh đọc và viết. Và anh Ba lại dạy họ học quốc ngữ và thỉnh
    thoảng dấm dúi cho họ một cốc cà phê. Anh nói với tôi với
    một vẻ ngạc nhiên: ”Anh Mai, cũng có những người Pháp tốt,
    anh ạ”.
    Hồi ấy, Bùi Quang Chiêu, kỹ sư canh nông vào làng Tây, đi
    tàu hạng nhất cùng với gia đình. Ông ta đưa con sang Pháp
    học. Trông thấy Ba, ông ta gọi anh lại và thân mật bảo:
    - “Tại sao con lại làm cái nghề khó nhọc này? Bỏ nghề này
    đi. Con nên chọn một nghề khác, danh giá hơn...”. Anh Ba lễ
    phép cảm ơn ông Chiêu, nhưng không nói đồng ý hay không.
    Đến Mạc-xây, chúng tôi lĩnh lương; mỗi nhân viên Việt Nam
    được từ 100 đến 200 quan, thêm vào đấy tiền thưởng của
    hành khách. Anh Ba là phụ bếp chỉ được 10 quan.
    Anh ta được ít lương, nhưng anh học được nhiều chuyện mới
    lạ. Coi tôi là bạn thân thiết nhất, anh ta nói với tôi tất cả
    những điều anh trông thấy và suy nghĩ.
    - “Ơ! Ở Pháp cũng có người nghèo như bên ta!”
    Trông thấy những gái điếm làm tiền trên tàu, Ba nói với tôi:
    - Tại sao người Pháp không “khai hóa” đồng bào của họ
    trước khi đi “khai hóa” chúng ta, sao thế anh Mai?
    Tàu điện đối với anh Ba là một chuyện kỳ lạ. Lần đầu tiên
    anh ta trông thấy những “cái nhà biết chạy” ấy. Cái gì cũng
    làm anh ta chú ý, vì cái gì đối với anh ta cũng mới cả. Luôn
    luôn anh ta nói:
    - “Lần đầu tiên, tôi mới thấy cái này…”
    Công việc trong ngày xong, tôi cho anh ta mượn bộ áo quần,
    và chúng tôi đi đến tiệm cà phê ở đường Ca-nơ-bia. Không
    cần phải nói, đây là lần đầu tiên anh ta vào tiệm cà phê và
    cũng là lần đầu tiên người Pháp gọi anh bằng “ông”.

    Sau những ngày đầu tiên ở Mạc-xây, anh Ba tóm tắt cảm
    tưởng của mình bằng mấy chữ:
    - Người Pháp ở Pháp tốt, lễ phép hơn người Pháp ở Đông
    Dương.
    Chúng tôi đi theo tàu lên Ha-vơ-rơ (Havre) để sửa chữa.
    Chúng tôi được đưa sang làm việc ở một chiếc tàu khác, trở
    về Đông Dương. Anh Ba không muốn trở về. Ông chủ tàu
    đem anh về nhà. Từ đấy, tôi không được tin tức gì của anh
    Ba nữa…
    Không bao giờ tôi đoán rằng người bạn nhỏ của tôi, người
    phụ bếp, anh Ba ngây thơ, siêng năng và ngoan ngoãn ấy,
    lại trở thành Chủ tịch Chính phủ ta, người xây dựng nên
    nước Cộng hòa chúng ta.
    ***
    Theo địa chỉ ông Mai mách, anh Trần, người cộng tác trẻ của
    tôi, đến gặp ông Dân ở Nha Trang. Đấy là những điều anh
    Trần ghi chép: Ông Dân 62 tuổi, chủ một cửa hàng nhỏ sạch
    sẽ và đông khách, nhà đông con. Ông ta tiếp tôi niềm nở và
    kể chuyện:
    “Tôi có hai con trai đi Vệ quốc quân và một con gái đi cứu
    thương. Nhà tôi còn ba con nữa: 22, 20 và 18 tuổi, đều là
    đoàn viên của Đoàn Thanh niên cứu quốc. Cả ba đứa đều
    muốn đi Vệ quốc quân. Khi nào Tổ quốc cần đến chúng nó,
    tôi sẵn sàng hiến con cho Tổ quốc. Có lẽ điều đó sẽ làm cho
    mẹ cháu buồn, nhưng đàn bà thì bao giờ chẳng thế. Tôi cũng
    nên nói để ông rõ là bà nhà tôi cũng là đoàn viên Phụ nữ cứu
    quốc. Còn tôi, thủ quỹ của Việt Minh địa phương. Cả gia đình
    tôi đều làm việc Nhà nước. Cả làng này đều thế. Ai cũng là
    Việt Minh. Việt Minh, Việt Nam, Việt Nam, Việt Minh. Không
    thể có Việt Nam mà không có Việt Minh”.
    Ông Dân có tài nói. Ông bắt chuyện này sang chuyện khác
    rất thần tình. Kéo ông về câu chuyện mà tôi đặc biệt chú ý
    không phải là dễ. Nhưng sau tôi đã thành công.

    - Có chứ, tôi còn nhớ anh Ba ấy. Chắc chắn tôi còn nhớ anh
    ta mặc dầu cách đây đã 30 năm.
    Tôi ở với ông chủ của tôi ở Xanh A-đơ-rét (Saint Adresse).
    Một ngoại ô của Ha-vơ-rơ. Một hôm, ông chủ già dẫn về một
    người trẻ tuổi, gầy yếu, quần áo lôi thôi nhưng có vẻ lanh
    lợi. Tên anh ta là Ba. Ở nước ngoài mà gặp được một người
    đồng hương, thì lập tức người ta dễ trở thành bạn thân.
    Chúng tôi cũng vậy.
    Chúng tôi ở một biệt thự, có vườn hoa. Ông chủ già khi rảnh
    việc thì ở câu lạc bộ thành phố. Bà chủ thường đến nhà
    người con gái, vợ một nhân viên của công ty. Một bà nấu
    bếp, một người tốt, nếu anh ta khéo nịnh thì bà ta cho anh
    ăn ngon, nhưng khi bà ta cáu thì như một mụ yêu tinh. Một
    cô sen xinh xinh hay làm dáng, có một “bà mẹ hay ốm”- “bà
    mẹ ốm” chính là một chàng thủy thủ. Để đi gặp tình nhân,
    chị ta lừa chúng tôi luôn và nói là đi thăm mẹ ốm. Trong nhà
    tất cả là 6 người.
    Đồ đồng đánh bóng, đồ đạc lau xong, bàn ghế sạch bụi, thế
    là ông chủ bà chủ bằng lòng và rất tốt, luôn luôn một điều
    “con” hai điều “con”. Nhưng phần lớn công việc do cô sen
    làm. Chị ta muốn cho chóng xong để đi gặp “bà mẹ ốm”.
    Vì vậy chúng tôi có rất nhiều thì giờ rảnh. Anh Ba dùng thì
    giờ, chăm bón hoa với người làm vườn hoặc giở những tờ
    báo có ảnh trong tủ sách ra xem. Sau khi đến được ba ngày,
    anh hỏi tôi: “Anh Dân, anh có biết viết chữ quốc ngữ không?
    ”. Tôi hơi thẹn nhưng trả lời thành thật : “Không, tôi không
    biết”. Anh Ba liền giảng giải và khuyến khích tôi học. Tôi làm
    theo lời anh. Anh Ba cũng thế. Anh học tiếng Pháp với cô
    sen. Ngày nay tôi đọc được và viết được chính là nhờ anh Ba.
    Để trả ơn, thỉnh thoảng tôi dẫn anh Ba đi xem chiếu bóng
    hoặc xem xiếc.
    Chúng tôi ở với nhau được độ một tháng. Một buổi chiều,
    người chủ già đi làm về, nói với anh Ba: “Có một chuyến tàu
    đi vòng quanh Châu Phi. Không có khách. Chỉ có hàng hóa.

    Anh có muốn nhận làm bồi cho các sĩ quan trên tàu ấy
    không? Họ không đông lắm đâu, và đều là những người tốt,
    anh sẽ thấy anh không đến nỗi vất vả ở trên tàu. Đồng ý
    chứ?”.
    Anh Ba vui vẻ nhận lời. Sau tôi nói với anh: “Ba ơi, khí hậu ở
    Châu Phi rất nóng, nóng hơn ở bên ta. Và một chiếc thuyền
    chở hàng rất tròng trành, rất dễ làm cho anh say sóng. Đi
    như thế anh dại dột lắm: Nhất là một thân một mình, bầu
    bạn không có…” Anh Ba nói với tôi: “Anh không nên nói như
    thế. Tôi là thanh niên, tôi khỏe, tôi chịu được khổ. Và tôi
    muốn đi xem các nước”. Ngay hôm sau anh Ba đáp thuyền
    đi, anh có viết thư cho tôi hai ba lần, kể cho tôi nghe vô số
    chuyện, nói đến người da đen, người Ả Rập, nói đến xứ Tênê-ri-pho, xứ Lit-bon, đến những con vẹt… Anh cũng cho biết
    là người nấu bếp trên tàu cũng là một đồng hương tên là
    Bốn…”
    Không để cho ông Dân nói hết câu, tôi hỏi: “Ông có biết ông
    Bốn ấy không?”.
    - Có, tôi biết. Tôi biết chắc chắn anh ta là một người ngớ
    ngẩn, có khi như là một người điên. Về già, anh ta trở nên
    khôn ngoan hơn. Anh ta làm việc như một con bò. Anh ta
    lĩnh được rất nhiều tiền. Nhưng mỗi lần tàu cập bến, anh ta
    tiêu sài trong hai ba ngày thì hết sạch số tiền kiếm được
    trong hai ba tháng. Chẳng bài bạc gì. Anh ta chỉ thích đi theo
    gái. Anh ta xấu như con quỷ. Nhưng anh ta bắt nhân tình với
    một cô gái nhẩy… và khi nào hết xu, chị chàng đuổi anh ra
    cửa.
    - Bây giờ anh ấy ở đâu?
    - Ông đến Quỳnh Lâm và hỏi Bốn sẹo thì ở đấy ai cũng biết.
    Bây giờ anh ta đã khôn ngoan hơn và được mọi người mến.
    Để kết luận cuộc phỏng vấn của tôi, tôi hỏi ông Dân:
    - Ông có biết anh Ba hiện nay thế nào không?

    - Không, tôi rất tiếc là không biết.
    - Ông có muốn tôi nói cho ông biết không?
    - Còn gì bằng nữa!
    - Ông quay lại xem, anh Ba ấy đây kìa. Tôi vừa nói vừa chỉ
    chân dung Hồ Chủ tịch treo trên bàn thờ giữa những bình
    hoa bình hương, đèn nến. Ông Dân quay đầu, mở to đôi
    mắt, há miệng gãi tai. Và ông bật lên như một cái lò xo và
    kêu:
    “Hồ Chủ tịch! Hồ Chủ tịch của chúng ta! A di đà phật! Nhưng
    làm sao anh biết? Anh nói thật đấy chứ? Ờ, ờ, lạ quá nhỉ. Hồ
    Chủ tịch là anh Ba ấy ngày xưa. Hay quá nhỉ! Tôi sẽ kể điều
    đó cho bà nhà tôi nghe, cho các cháu nghe. Chúng nó sẽ
    mừng biết mấy! Cha của chúng nó biết cụ Hồ ngày xưa…”.
    Tôi lại tìm đến ông Bốn. Tính tình ông Bốn hoàn toàn khác
    với ông Dân, và cũng không giống như anh Bốn trai trẻ mà
    ông Dân đã nói. Đấy là một ông già hơn 60 tuổi, hiền lành.
    Với một giọng nhè nhẹ, ông kể lại đời mình cho tôi nghe và
    những mối quan hệ giữa ông với anh Ba hồi ấy. Ông nói:
    “Lúc còn trẻ tôi đi vòng quanh thế giới làm nghề nấu bếp
    trên tàu. Tôi kiếm được rất nhiều tiền. Nhưng tôi không gửi
    một xu nhỏ về gia đình. Tôi chạy theo một cô gái nhảy, có
    bao nhiêu nướng hết.
    Tôi đi nhiều, nhưng tôi không thấy gì, không đọc gì. Tôi hoàn
    toàn dốt đặc, không biết đọc chẳng biết viết. Một lần đi trên
    một chiếc tàu nhỏ chở hàng, tôi có người bạn là một đồng
    hương trẻ tuổi, tên là Ba. Sau những giờ làm việc anh Ba
    viết và đọc sách. Chính anh đã khuyên tôi học chữ quốc ngữ.
    Anh Ba có một lối thuyết phục người rất giỏi. Nhờ những lời
    khuyên bảo và sự giúp đỡ của anh Ba, tôi trở nên một người
    khá.
    Chiếc tàu nhỏ rời Ha-vơ-rơ. Đỗ lại ở Tây Ban Nha, Bồ Đào
    Nha, An Giê Ri, Tuy Ni Di và những cửa bể Đông châu Phi

    cho đến Công Gô. Đến đâu anh Ba cũng để ý xem xét. Mỗi
    lần tàu cập bến, thế nào anh Ba cũng kiếm cách đi thăm
    thành phố. Khi trở về, anh có những ảnh và những hộp diêm
    đầy túi. Anh Ba thích thu thập những thứ ấy.
    Đến Da-ca, bể nổi sóng rất dữ. Tàu không thể vào bờ. Cũng
    không thể thả ca-nô xuống vì sóng rất to. Để liên lạc với tàu,
    bọn Pháp trên bờ bắt những người da đen phải bơi ra chiếc
    tàu. Một, hai, ba, bốn người da đen nhảy xuống nước. Người
    này đến người kia, họ bị sóng bể cuốn đi.
    Cảnh tượng ấy, mọi người coi là thường. Nhưng điều đó làm
    cho anh Ba hết sức cảm động, anh khóc. Ngạc nhiên tôi hỏi
    tại sao? Anh Ba buồn rầu trả lời tôi:
    “Những người Pháp ở Pháp phần nhiều là người tốt. Song
    những người Pháp thực dân rất hung ác, vô nhân đạo. Ở đâu
    chúng nó cũng thế. Ở ta, tôi cũng thấy chuyện như thế xảy
    ra ở Phan Rang. Bọn Pháp cười sặc sụa trong khi đồng bào ta
    chết đuối vì chúng nó. Đối với bọn thực dân tính mạng của
    người thuộc địa, da vàng hay da đen cũng không đáng một
    xu”.
    Chiếc tàu của chúng tôi chở rượu ngon của Boóc-đô và An
    Giê Ri cho những thuộc địa khác. Tất cả mọi người trên tàu
    dùng rượu đó. Vì rượu rất nhiều. Tôi đã trông thấy nhiều
    thủy thủ say rượu suốt chuyến tàu. Chỉ cần dùi một lỗ nhỏ
    vào thùng rượu, ấn một ống cao su nhỏ vào đấy, hút thật
    mạnh và để đầu ống kia vào một cái chai. Và như thế tha hồ
    mà uống. Nhưng anh Ba không bao giờ uống rượu và khuyên
    tôi không nên làm như thế.
    Anh Ba rất tốt với mọi người và không bao giờ cãi cọ với ai.
    Nhưng anh Ba hơi khác thường. Mỗi ngày, anh dậy thật sớm
    để xem mặt trời mọc. Và trong những đêm trăng, anh hầu
    như không ngủ, anh đi đi, lại lại trên tàu, ngắm trời ngắm
    bể. Chúng tôi đậu lại ở Tê-nê-ríp-pho vào lúc hoàng hôn. Bể
    lặng sóng, hòn đảo giống như một cái chụp đèn khổng lồ để
    trên mặt bể, phía trên lóng lánh, phía dưới xanh xanh. Chỉ

    có thế thôi. Mà anh Ba ngây người. Anh nhắc đi nhắc lại:
    “Bốn, anh nhìn kìa! Đẹp quá! Hùng vĩ quá!”
    Đến lúc trở về Ha-vơ-rơ. Nhớ lời khuyên của anh Ba, tôi
    không đến thăm cô gái nhảy nữa. Tôi còn đi một vài chuyến
    dành được ít tiền thì tôi trở về nước, mở một cửa hàng nhỏ,
    và lấy vợ. Nghĩ đến tình bạn giữa chúng tôi, tôi đã đặt tên
    cho đứa con đầu lòng của tôi là Ba, điều đó làm cho những
    người chung quanh lấy làm lạ. Việc đó đã cách đây 30 năm.
    Ngày giờ đi chóng quá”.
    Ông Bốn ngừng lại. Tôi hỏi tiếp:
    - Thế còn ông bạn Ba của ông, sau đấy đi đâu?
    - Ba cũng rời chiếc tàu, nói là đi Anh.
    - Tại sao đi Anh.
    - Ba nói để học tiếng Anh.
    - Thế ông có được tin tức của anh Ba không?
    - Có, hai ba lần gì đấy, anh Ba đã kể cho tôi nghe đã gặp ở
    Luân Đôn một người đồng hương tên là Nam.
    - Ông có biết ông Nam không?
    - Có, hầu hết ch...
     
    Gửi ý kiến

    Việc đọc rất quan trọng. Nếu bạn biết cách đọc, cả thế giới sẽ mở ra cho bạn. (Barack Obama)

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG THPT NGUYỄN THỊ MINH KHAI - ĐỨC THỌ - HÀ TĨNH !