TRƯỜNG THPT NGUYỄN THỊ MINH KHAI (ĐỨC THỌ) 50 NĂM NIỀM TIN VÀ KHÁT VỌNG
Doi Dac Nhiem TK1 - Le Thanh Chon

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hồng
Ngày gửi: 13h:58' 26-04-2024
Dung lượng: 1.7 MB
Số lượt tải: 1
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hồng
Ngày gửi: 13h:58' 26-04-2024
Dung lượng: 1.7 MB
Số lượt tải: 1
Số lượt thích:
0 người
Đội đặc nhiệm TK1
Tác giả: Phan Văn Lợi
Nhà xuất bản: Công an Nhân dân
Năm xuất bản: 2002
Nguồn: ptlinh, chienvit (quansuvn.net)
Ebook: do_long_khanh, TVE
Epub (02/2019): @lamtam, tve-4u.org
Giới thiệu
Vào 1 ngày đẹp trời sau Mậu Thân 68, Vệ Tinh của Liên Xô bỗng
phát hiện ra dấu vêt rõ ràng của kim loại quý tại vùng rừng hẻo lánh
sát biên giới Lào của tỉnh Quảng Nam. Một mỏ vàng lộ thiên hay một
kho vàng cũ của phát xít Nhật? Một đội đặc nhiệm được thành lập
để thực hiện cuộc tìm kiếm. Đội mang tên TK1, bao gồm 4 thành
viên:1 chiến sĩ an ninh, 2 trinh sát đặc nhiệm và 1 cán bộ địa chất
giàu kinh nghiệm.
4 người đã tiến hành tìm kiếm xuyên qua vùng rừng nguyên sinh
hầu như chưa có dấu chân người, qua nhưng nghĩa địa voi, rừng
khô cháy, núi cao, vực sâu. Người cán bộ địa chất bất ngờ gặp tai
nạn và hy sinh khi vượt vực, mang theo mọi bản đồ và la bàn. 3
người còn lại tiếp tục hành trình bằng kinh nghiệm của thợ săn. Khi
đến đúng địa điểm đánh dấu trên bản đồ, họ bị trực thăng của kẻ thù
phát hiện và săn đuổi.
Chương I
Buổi chiều một ngày đầu tháng 4 năm 1969.
Đang chuẩn bị cho chuyến đột nhập về vùng ven thị xã Quảng
Trị, tôi bỗng được lệnh lên gặp ông Thủy để nhận công tác gấp.
Chia tay với Bằng và Dũng, hai người đồng đội cùng tổ trinh sát, tôi
vội vã đi lên khu hầm chỉ huy, trong lòng thấp thỏm. Vẫn biết đi công
tác đột xuất đồi với lính an ninh là chuyện thường tình, nhưng đích
thân đồng chí trưởng ty giao nhiệm vụ thì hẳn là công việc rất quan
trọng...
Ông Thủy rút từ cặp hồ sơ ra tờ giấy ghi điện mật, nhưng không
đưa cho tôi mà giơ lên trước đèn, vừa nhìn bức điện vừa nói:
– Tôi mới nhận được điện của Khu ủy, trên ấy điều cậu đi công
tác gấp. Trong điện ghi đích danh nên không thể thay bằng người
khác được. Chính vì thế mà tôi phải cho đồng chí Diễn xuống ngay,
sợ các cậu đi rồi thì lỡ việc. Thế nào, đột xuất như vậy có ảnh
hưởng gì tới công việc của tổ cậu không?
– Báo cáo, không sao ạ! Đồng chí Bằng đảm đương được, cậu
Dũng cũng quen rồi. Nhưng có việc gì mà Khu ủy điều đến tôi ạ?
Ông Thủy nhìn tôi, mắt thoáng cười sau cặp kính loáng ánh đèn:
– Đừng sốt ruột? Cậu đã biết rồi, có những việc khi bắt tay vào
làm mới rõ. - Ông ngừng lại như để cân nhắc điều gì, rồi nói tiếp Riêng trong chuyện này, tôi cũng mới nắm những nét chung nhất
thôi. Về phần cậu chỉ cần nhớ: Khu ủy điều cậu đi công tác gấp,
trong chiều mai phải có mặt ở T.2. Đường xa lại khó đi, cậu phải lên
đường ngay mới kịp.
Ông mở cặp hồ sơ trên bàn, lấy ra tờ giấy giới thiệu:
– Không có lệnh điều động đâu! Tôi đã viết sẵn giấy giới thiệu
cho cậu. À, trong điện nói rõ: chỉ mang theo vũ khí và tư trang cần
thiết. Những thứ cần dùng cho công tác sắp tới sẽ lĩnh ở T.2. Cậu
cần bao lâu để chuẩn bị?
– Báo cáo, tôi đi ngay được ạ!
– Tốt! Đây là mật khẩu đêm nay trên đường giao liên, đọc xong
nhớ kỹ rồi đưa lại cho tôi. - Ông đưa tôi mảnh giấy nhỏ - Tôi đã điện
hỏi bên giao liên, đường đêm nay yên, đi được.
Tôi đọc mật khẩu rồi đưa trả mảnh giấy. Mật khẩu rất dễ nhớ.
Còn tờ giấy giới thiệu tôi gấp lại, cẩn thận cho vào bao nilong, cất
trong túi áo ngực. Nội dung giấy giới thiệu cũng như thường lệ, chỉ
phần lý do công tác lại ghi: "Gặp anh Hai Nguyên", rất cụ thể nhưng
khó hiểu.
Ông Thủy tháo kính, ngả người vào lưng ghế:
– Cậu còn hỏi gì nữa không?
Tôi chưa trả lời ngay, trong đầu thoáng nghĩ về chặng đường sắp
tới. Chưa đến T.2 lần nào, nhưng tôi biết đó là trạm giao liên thuộc
đường dây 559, chuyên đưa đến các đoàn cán bộ vào ra công tác ở
Trị Thiên. Trạm nằm ở phía tây Vĩnh Linh, đâu như trong một cánh
rừng thuộc Bãi Hà. Như vậy đêm nay tôi lại đi ra Bắc, ngược hướng
với Bằng và Dũng. Sẽ vượt sông Bến Hải ở Bến Than. Sức trai hăm
ba tuổi lại quen vất vả từ nhỏ, chặng đường này đối với tôi chẳng
mùi mẽ gì.
Ngẩng đầu lên, thấy ông Thủy vẫn đang chờ trả lời, tôi vội đáp:
– Báo cáo, rõ cả rồi ạ! Chỉ có đoạn từ Bến Than đến T.2 tôi chưa
đi lần nào...
– Qua Bến Than, cậu phải đi gần một ngày nữa. Tới đó đã là đất
miền Bắc, cứ hỏi đường lên Bãi Hà, sẽ có người đến. Nhưng nhớ
giữ kỹ giấy giới thiệu. Không có nó, cậu không đi được bước nào
trên đất Vĩnh Linh đâu. À, cậu quê ngoài đó cơ mà, còn lạ gì nữa!
Ông đứng dậy tới bên chiếc ba lô treo ở vách hầm, lấy ra hai
phong lương khô đưa cho tôi:
– Cầm lấy ăn dọc đường. Chỉ đi trong một ngày đêm, khỏi cần
xuống hậu cần nhận gạo. Vả lại đi gấp cũng chẳng kịp nấu cơm. Mà
ra quê cậu đâu có lo đói. Này, cậu biết anh Hai Nguyên rồi phải
không?
– Dạ, đã gặp vài lần rồi ạ! Anh Hai Nguyên là cán bộ lãnh đạo
của Khu ủy, tôi có gặp mấy lần khi anh về Ty an ninh làm việc. Đó là
người lãnh đạo mà lính an ninh chúng tôi hết lòng kính phục. Anh có
tác phong giản dị, cách nói chuyện rất hấp dẫn, vừa sâu sắc vừa dí
dỏm. Cánh trinh sát bên Tỉnh đội kể mãi về chuyện trước Mậu Thân,
anh cùng lính đặc công mặc đồ cụt ngụy trang cắp AK bò vào tan
sân bay Ái Tử, thành thạo không kém bất cứ một chiến sĩ đặc công
dày dạn nào. Về tuổi tác, đáng ra như tôi phải gọi anh bằng chú,
nhưng anh dặn chúng tôi cứ gọi bằng anh cho dễ xưng hô và để anh
được trẻ lâu...
Thấy ông Thủy nhìn đồng hồ, tôi vội nhìn xuống chiếc "Pônzốt”
đeo ở cổ tay: đã bảy giờ tối.
– Thôi, cậu đi được rồi đấy?
Ông đứng dậy cầm chiếc ba lô nhẹ tênh giúp tôi khoác lên vai và
đi cùng tôi ra tới cửa hầm ngoài cùng. Đặt cả hai tay lên vai tôi, ông
thân mật nói:
– Mình chưa biết cụ thể công việc sắp tới của cậu, nhưng chuyến
đi này có lẽ dài ngày. Vậy chúc cậu lên đường may mắn và mạnh
khoẻ. Trước lúc cậu đi, mình chỉ dặn một điều: Khi trên đã điều động
một người lính an ninh, thì có nghĩa công việc sắp tới không chỉ cần
đến lòng dũng cảm trung thành, mà còn cần cả kinh nghiệm, sự hiểu
biết và bản lĩnh của một chiến sĩ an ninh. Thôi, đi nhé!
Cảm động trước lời dặn dò chân tình của ông, tôi bối rối nên chỉ
đáp ấp úng: "Chào thủ trưởng, tôi đi ạ"' ông bắt tay tôi lần cuối rồi
quay vào hầm.
Xốc lại chiếc ba lô và khẩu súng trên vai, tôi bước ra mé đồi đưa
mắt tìm lối đi. Lúc đó tôi đâu có ngờ rằng mình đang bước những
bước đầu tiên của một chuyến đi dài ngây, một chuyến đi kỳ lạ
chẳng hề giống bất cứ chuyến công tác nào trước đó.
Sau gần một đêm và một ngày cuốc bộ thật lực, tôi tới trạm
khách của T.2 đúng giờ qui định nhưng không gặp anh Hai Nguyên,
chỉ nhận được mẩu giấy của anh gửi lại với nội dung ngắn và rõ như
một mệnh lệnh: "Nghỉ ngơi và chờ đợi”.
Đêm ấy tôi mắc võng nằm một mình trong căn nhà vắng ở góc
rừng, trằn trọc mãi bởi tâm trạng nôn nao trước công việc sắp tới,
mà đến lúc này vẫn chưa biết được là việc gì.
Sáng hôm sau khi từ dưới suối lên, tôi nghe trong nhà có tiếng
người, chắc có ai mới đến. Đang định phơi bộ quần áo vừa giặt,
bỗng thấy một người mặc quan phục hiện ra trước cửa, nụ cười
tươi rói trên khuôn mặt ngăm đen thân thiết. Tôi ngớ người rồi bật
reo: "A, anh Đằng!" Ném bộ quần áo ướt lên chiếc sào tre, tôi nhào
tới ôm chầm lấy anh. Anh cười khà khà:
– Chưa hết! Ai đây?
– Anh né sang một bên.
– Ôi! Cả anh Hùng nữa! Các anh đi đâu vậy? - Tôi hỏi một câu
khá ngớ ngẩn.
– Đi với cậu chứ đi đâu? Vào đây? Vào đây nói chuyện.
Chúng tôi ngồi xuống bên bàn, ngắm nhìn nhau.
– Các anh vẫn thế, chẳng thay đổi gì cả? - Tôi nói.
– Thay đổi thế nào được, bọn mình vẫn khỏe như vâm. Tới trạm
nghe ông Hai Nguyên bảo xuống đây sẽ gặp người quen. Gặng mãi
ông ấy chẳng nói, chỉ tủm tỉm cười. Ai ngờ lại là cậu…
Nói chuyện một lúc, rồi tôi dẫn các anh ra suối. Hai anh xuống
tắm, còn tôi ngồi giặt giúp mấy bộ quần áo. Câu chuyện vẫn sôi nổi
không dứt.
Thì ra các anh vẫn chưa biết ra đây làm nhiệm vụ gì. Đang hoạt
động ở phía bắc đường Chín bên đất Lào, nhận được điện là lên
đường ngay. Đi suốt đêm ra tới đường Trường Sơn, vẫy một chiếc
xe con, may gặp đồng chí cán bộ đoàn 559 là người quen của anh
Đằng đi Hà Nội họp. Anh ấy cho xe chở tận Bãi Hà.
Anh Đằng và anh Hùng là trinh sát quân báo của một sư đoàn
chủ lực chuyên hoạt động ở chiến trường Quảng Trị, Nam Lào. Tôi
quen các anh trong một trường hợp khá đặc biệt mà có lẽ chẳng ai
muốn có một dịp như vậy để làm quen với nhau. Hôm ấy tổ công tác
của chúng tôi đang trên đường trở về hậu cứ sau một chuyến công
tác. Thời gian này địch nống ra đánh phá ác liệt hòng đẩy bộ đội ta
lên xa trên núi. Sau Mậu Thân lực lượng ta tổn thất khá nhiều. Các
cơ sở nằm vùng phần bị bắt, phần bị lộ phải nít ra nên công tác của
chúng tôi gặp rất nhiều khó khăn. Hôm ấy có việc gấp nên chứng tôi
đi từ trưa. Lúc ngang qua dãy đồi sim ở vùng tây Cam Lộ, chúng tôi
gặp một đơn vị đang bị phục kích. Đó là tổ trinh sát của anh Đằng và
anh Hùng. Chúng tôi đã cùng lợp sức diệt gọn toán thám báo địch.
Rồi quen nhau từ đó.
Về sau, thỉnh thoảng có dịp công tác qua, các anh lại ghé vào
hậu cứ Ty an ninh thăm chúng tôi. Có lần anh Đằng đưa cho tôi một
tờ báo của Quân khu, trong đó có đăng bài viết về trận đánh nhỏ
của chúng tôi. Bài báo biểu dương tổ trinh sát của tôi, nói đó là trận
đánh phản phục kích, đánh phối hợp theo tiếng súng tuyệt đẹp...
Chẳng biết anh Đằng đã kể gì với nhà báo, chứ chúng tôi thì lại
hết sức cảm phục các anh. Bị phục kích bất ngờ như thế, trước một
khẩu trung liên và nửa tá nòng tiểu liên bắn như đổ đạn, nhưng vẫn
đánh trả được và chỉ bị thương nhẹ có hai người, chứng tỏ các anh
là những người lính trinh sát dạn dày bản lĩnh mà còn lâu cánh lính
trẻ chúng tôi mới theo kịp...
Vì vậy tôi rất mừng khi được đi với hai anh trong chuyến công
tác, dù chưa biết sẽ làm công việc gì.
Đợi hai anh tắm xong, chúng tôi cùng lên nhà. Vừa bước vào cửa
đã thấy anh Hai Nguyên ngồi uống nước trà bên bàn, ung dung như
một thầy giáo đang đợi trống đánh báo giờ vào lớp.
– Thế nào, đã kịp làm quen với nhau rồi phải không? - Anh nheo
mắt hóm hỉnh.
Cả ba chúng tôi cùng bật cười. Anh Đằng trả lời:
– Thế mà hỏi mãi anh không nói. Ai chứ Hải với bọn em còn hơn
cả ruột thịt...
– Biết thế nên mình mới để các cậu đi với nhau chuyến này.
Nhưng việc đó nói sau, đang còn đợi một cậu nữa từ Hà Nội vào.
Giờ các cậu cứ phải nghỉ ngơi thôi. Tuyệt đối không được sốt ruột
đấy nhé. Mình đi đây? Nếu tối nay rảnh, sẽ xuống ngủ với các cậu
một đêm.
Nói xong, anh đứng dậy, thân mật vỗ vai từng người rồi nhanh
nhẹn bước ra cửa. Đã quen với tác phong của anh nên chúng tôi
không ngạc nhiên.
Đến chiều, chúng tôi ra ngồi dưới gốc cây, lại hàn huyên mãi
không thôi. Anh Hùng lấy trong ba lô ra gói lạc và kí đường, trổ tài
nấu một mẻ kẹo. Kẹo lạc anh nấu rất ngon, nhưng vừa ăn vừa phải
bóc giấy báo dính sau lớp kẹo vì không có bánh tráng để đổ.
Lúc sẩm tối, anh Hai Nguyên ôm võng xuống ngủ với chủng tôi.
Bốn chiếc võng mắc chụm đầu vào cây cột giữa nhà. Chúng tôi rủ rỉ
trò, chuyện đến nửa đêm. Khi nghe anh hỏi chuyện, tôi thấy anh biết
khá rõ hoàn cảnh gia đình của mỗi chúng tôi. Đến lúc nghe anh kể
về mình, mới biết anh quê Quảng Nam chứ không phải ở Nam Bộ
như lâu nay tôi vẫn tưởng. Vì ít được tiếp xúc nên tôi không rành
phân biệt giọng nói người miền trong. Hơn nữa, cái tên Hai Nguyên
cùng với phong thái cởi mở sôi nổi làm anh có dáng dấp của một
"anh Hai Nam Bộ" trong suy nghĩ của tôi.
Quê anh ở cạnh con sông Thu Bồn, một làng quê nghèo và hiền
lành như bao làng quê miền Trung. Nhà anh chỉ có hai anh em. Cha
mẹ anh mất sớm, lúc đó anh mười tuổi còn người anh trai mười lăm.
Vốn xuất thân từ một gia đình có truyền thống hiếu học nên cả hai
anh em đều sáng dạ, ham học. Bà con nội ngoại thấy vậy đã xúm lại
giúp hai anh em theo việc đèn sách. Anh cùng anh trai vào Quy
Nhơn ở nhờ nhà một người bà con xa làm nghề buôn bán, vừa đi
học vừa phụ giúp bán hàng và tính toán sổ sách để có thêm chút ít
thu nhập ngoài số tiền nhỏ mà bà con ở quê thỉnh thoảng gửi vào.
Năm 1943 cả hai anh em cùng lúc thi đỗ diplome khiến họ hàng gần
xa ai cũng tự hào và hả dạ. Ở quê, có những dòng họ giàu có sẵn
sàng chu cấp cả trăm lần hơn thế cho con cháu ăn học, mà đâu có
ai được như vậy. Anh trai anh vẫn tiếp tục học lên. Nhưng anh thấy
số tiền ít ỏi mà bà con làng xóm gom góp chu cấp không kham nổi
việc hai anh em cùng học, nên anh tự ý nghỉ, đi làm nghề dạy kèm
để kiếm thêm, dù người anh hết sức can ngăn và la mắng.
Năm Tổng khởi nghĩa cướp chính quyền, anh trở ra quê hăng hái
tham gia phong trào ở địa phương. Trong những ngày sôi nổi ấy,
anh lăn vào tất cả mọi công việc mà chính quyền Cách mạng non trẻ
ở quê cần đến, từ dựng cổng chào, cắt khẩu hiệu, dạy bình dân học
vụ cho tới tập quân sự, tuần tra canh gác... Khi những chuyến tàu
rầm rập ngày đêm chở thanh niên trai tráng "Nam tiến" chạy qua cái
thị xã Đà Nẵng nồng mùi cá biển, thì anh không còn chịu được nữa.
Anh nhảy lên một chuyến tàu như thế, bằng mọi cách năn nỉ với
đồng chí chỉ huy cho đến lúc được nhận theo. Từ đó anh đã đi qua
nhiều miền đất, nhiều chặng đường gian truân của cuộc kháng chiến
chống Pháp. Năm 1954, anh là trung đoàn trưởng chỉ huy một trung
đoàn tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử. Hòa bình, anh ở lại
miền Bắc tham gia xây dựng quân đội. Vì vậy kể từ ngày bám theo
đoàn tàu Nam tiến đến mãi sau này, anh không nhận được tin gì về
anh trai mình. Anh không bao giờ quên được những ngày tháng
gian nan khốn khó hai anh em mồ côi cha mẹ đùm bọc nương tựa
vào nhau trong sự cưu mang của bà con họ hàng. Hình ảnh ngôi
nhà tranh bé nhỏ có cây mai già mọc trước mảnh sân đầy rêu, nơi
hài anh em anh sinh ra và lớn lên, luôn hiện ra trong tâm trí những
lúc anh nhớ về quê nhà, về người anh trai của mình. Mỗi khi xuân
đến, màu hoa mai nở vàng rực càng làm cháy lên trong anh nỗi khát
khao trở về sững và chiến đấu trên mảnh đất quê hương.
Năm 1959, anh được điều sang đoàn cán bộ vào Nam tăng
cường cho Khu ủy Trị Thiên. Hai năm sau, nhân gặp một người bạn
ở Tỉnh ủy Quảng Nam ra Bắc công tác, anh mới biết anh trai mình
hiện đang sống ở Sài Gòn, là giáo sư dạy sử ở một trường dại học.
Anh ấy đã lập gia đình, có hai con, một trai một gái...
Anh kể tiếp:
– Trước sáu tám, mình được tin anh mình chuyển ra sống ở Đà
Nẵng. Nghe nói ông đã bỏ nghề dạy học, giờ chỉ ở nhà viết sách.
Còn đứa cháu trai thì đi lính ngụy, hình như làm "philốt". Không biết
đã có khi nào nó ném bom xuống đầu chú nó chưa...,
Anh cười buồn, ngưng một lúc rồi mới nói tiếp:
– Dạo Mậu Thân, mình có nhờ bạn bè trong đó tìm kiếm. Sau này
anh em báo ra là đã móc được với anh mình, nhưng chưa kịp nhận
hồi âm vì tình hình lúc đó diễn ra ác liệt quá... Mình chỉ mong hai
anh em còn sống đến ngày hòa bình để được ôm lấy nhau, để dắt
nhau về lại ngôi nhà nhỏ có cây mai già ấy mà thắp cho ông bà cha
mẹ mấy nén hương...
Trong đêm khuya thanh vắng, câu chuyện về gia đình qua giọng
kể thủ thỉ buồn buồn của anh làm chúng tôi nao cả lòng. Tôi không
ngờ người cán bộ lãnh đạo lúc nào cũng nhiệt tình sôi nổi và hóm
hỉnh đó lại chứa chất trong lòng một tâm sự da diết đến như thế.
Sáng hôm sau tỉnh giấc, thấy anh Hai Nguyên đã dậy cuốn võng
đi từ lúc nào. Anh Đằng cười:
– Ông này đúng là đặc công thứ thiệt. Đi lúc nào mà êm ru, mình
chẳng hay biết gì cả!
Nhưng chỉ nửa giờ sau anh lại đến. Cùng đi với anh có một
người trạc tuổi anh Hùng, dáng cao cao, nước da trắng, mặc bộ
quân phục và đeo chiếc ba lô cóc mà tất cả đều còn mới tinh như
vừa nhận từ trong kho ra.
Vừa bước qua cửa, anh Hai Nguyên nói ngay:
– Vậy là người thứ tư đã tới. Giới thiệu với các cậu, đây là đồng
chí Sơn, kỹ sư địa chất, mới từ Hà Nội vào. Sáng nay các cậu nghỉ
ngơi, làm quen với nhau. Chiều hai giờ ta làm việc nhé! - Anh cười,
vẫy tay chào rồi quay người đi ngay.
Tôi bước tới, giúp anh Sơn cởi ba lô đặt trên bàn:
– Anh ngồi nghỉ, lát rồi em dẫn xuống suối tắm cho mát!
Anh Đằng róc nước ra chén, đưa mời:
– Đồng chí Sơn uống nước? Đồng chí quê ở đâu nhỉ?...
Cứ thế, chỉ lát sau là chúng tôi đã cởi mở trò chuyện thân tình.
Riêng tôi vẫn phân vân không biết vì sao anh Sơn lại đi với chúng
tôi. Trông anh đúng là dân trí thức chính cống, lại mới từ Hà Nội vào.
Tôi thì chẳng đáng nói, chứ trên đã điều những người như anh Đằng
và anh Hùng cho chuyến công tác này, hẳn công việc đâu có đơn
giản... Sau này tôi phải tự xấu hổ với những suy nghĩ ban đầu của
mình. Qua câu chuyện, chúng tôi được biết anh Sơn là kỹ sư địa
chất, chuyên đi tìm kiếm khảo sát các mỏ kim loại màu và đá quí.
Suốt sáu năm từ khi tốt nghiệp ra trường cho đến nay, hầu như anh
lang thang trong rừng, đặt chân lên nhiều miền núi non của tổ quốc,
từ Nghệ An, Thanh Hóa cho tới những dãy núi trùng điệp ở Đông
Bắc, Tây Bắc. Chỉ những lúc phải về phân tích mẫu, lập đồ bản...
anh mời làm việc ở Hà Nội. Đúng là người ta rất dễ nhầm lẫn nếu
đánh giá một con người chỉ qua dáng vẻ bên ngoài.
Anh Đằng vô cùng mừng rỡ khi biết anh Sơn đồng hương với
anh, mà lại là đồng hương tầm gần, có nghĩa cùng huyện, chứ
không phải loại đồng hương pháo tầm xa cũng không với tới. Quê
anh Sơn ở gần núi Gội, còn nhà anh Đằng ở cạnh ga Cát Đằng (tỉnh
Nam Định), chỉ cách nhau chừng mười cây số, gọi là ga trước ga
sau của một chuyến tàu chợ. Anh Sơn đã lập gia đình, chị ấy dạy
học ở trường cấp hai trong xã. Hai anh chị sinh được một cháu gái,
năm nay cháu ba tuổi.
Tôi nhường cho anh Đằng quyền được dẫn đồng hương xuống
suối tắm giặt để các anh có dịp tâm sự với nhau. Khi từ dưới suối
lên, nhìn nét mặt rạng rỡ của anh, tôi hiểu điều gì đã làm anh vui
đến vậy. Ở quê, gia đình anh chỉ còn mỗi mình ông cụ thân sinh. Mẹ
anh mất cách đây hai năm, nhưng mãi sau này anh mới biết tin. Hai
ông bà sinh được có mình anh... Năm 1956, theo ước nguyện của
bố, anh Đằng làm đơn tình nguyện vào trường thiếu sinh quân và
được chấp nhận, nhưng khi đến trường thì bị trả về với lý do quá
tuổi quy định, kèm theo lời xin lỗi gia đình về sự sơ suất trong xét
tuyển. Năm ấy anh mười tám tuổi. Anh không chịu về, mấy ngày liền
bám theo các anh cán bộ quân lực nằng nặc xin vào một trường
quân sự nào đó. Cuối cùng, anh được nhận vào trường bộ đội đặc
công. Hơn hai năm sau, anh đã là thành viên trẻ nhất trong đoàn
cán bộ đi mở đường Trường Sơn. Lăn lộn mải miết với các tuyến
đường hết đông lại sang tây Trường Sơn, đến năm 1965 anh được
điều về phòng quân báo của một sư đoàn chủ lực. Trong chừng ấy
năm có dăm lần về phép, mỗi lần mươi ngày, anh chỉ kịp giúp bố mẹ
lợp lại mái nhà hay làm cái chuồng lợn, chứ không đủ thời gian để
có thể tìm hiểu một cô nào đó mà lấy làm vợ. Lần về phép gần đây
nhất của anh cũng đã cách bốn năm...
Vì vậy việc bất ngờ gặp được người đồng hương ở nơi xa xôi
này và biết được những tin tức tốt lành còn nóng hổi về quê nhà sau
bao ngày xa cách, khiến anh vô cùng vui sướng.
Đúng như đã hẹn, anh Hai Nguyên đến lúc hai giờ chiều. Cùng đi
có một đồng chí thiếu tá mà anh giới thiệu là cán bộ tham mưu của
đoàn 559. Tôi có cảm giác chiếc quân hiệu lấp lánh trên mũ và đôi
cấp hàm đỏ chót nơi ve áo anh làm cho không khí trang nghiêm hẳn
lên.
Anh Hai Nguyên nói:
– Các đồng chí biết nhau cả rồi, nên ta vào việc luôn. Tôi được
Trung ương giao nhiệm vụ thành lập và chỉ đạo một tổ công tác đặc
biệt. Sau khi trao đổi bàn bạc với các đơn vị có trách nhiệm phối
hợp, tôi quyết định chọn bốn đồng chí để thành lập tổ công tác này.
Từ nay, các đồng chí là thành viên của tổ, đồng chí Đằng làm tổ
trưởng. Nhiệm vụ của các đồng chí là tìm kiếm một vỉa quặng vàng
được phát hiện qua vệ tinh của Liên Xô. Theo bạn, vỉa quặng này rất
đáng chú ý vì những số liệu kỹ thuật đều cho thấy nó có hàm lượng
vàng rất cao và chỉ phát hiện tập trung ở một nơi. Tọa độ của nó là...
Anh đọc tọa độ rồi cầm bút chì chỉ vào một điểm trên tấm bản đồ
tỉ lệ 1:100.000 mà đồng chí thiếu tá vừa trải lên bàn. Điểm anh chỉ
nằm ở phía tây tỉnh Quảng Nam, sát với biên giới Việt-Lào.
– Thế nào? - Nheo mắt nhìn chúng tôi, anh hỏi - Nhiệm vụ khá
bất ngờ và lý thú phải không? Nhưng cứ nghe tiếp đã nhé? Trong
cuộc họp vừa rồi ở Hà Nội, tôi được biết: Trung ương đã chỉ thị cho
các cơ quan có trách nhiệm nghiên cứu thông tin này, và đã có
nhiều ý kiến khác nhau. Một ý kiến cho rằng đây đúng là mạch
quặng vàng lộ thiên, dấu hiệu của mỏ vàng nằm sâu trong lòng đất.
Tọa độ được phát hiện ở phía trên mỏ vàng Bồng Miêu nhưng cách
khá xa, liệu có liên quan gì về mặt địa chất? Điều này rất khó xác
định do không đủ dữ liệu. Có ý kiến khác nêu ra nhận định: đây là
một kho vàng tồn tại do nguyên nhân lịch sử nào đó. Khả năng này
rất đáng chú ý. Trước đây nhân dân vùng núi Quảng Bình, Hà Tĩnh
đã từng phát hiện một số vàng thỏi và tiền vàng nhưng số lượng
không nhiều, xác định là vàng do vua Hàm Nghi mang theo khi ra
vùng này lập căn cứ chống Pháp. Có người nói đây có thể là vàng
mà quân Nhật vơ vét khi sang chiếm nước ta, rồi sau chúng đem thu
giấu vì không chuyển về nước được... Tình tiết này có thật trong lịch
sử, nhưng tọa độ phát hiện nằm giữa núi cao rừng thẳm, cách xa
các đường giao thông và khu dân cư, kể cả các bản làng của đồng
bào dân tộc, khó ai có thể vận chuyển lên cất giấu ở đó...
Cuối cùng cuộc họp quyết định phải tổ chức thăm dò tìm kiếm,
giao trách nhiệm cho tôi trực tiếp chỉ đạo với sự phối hợp về mọi
mặt của đoàn 559, quân khu Bốn và Tổng cục địa chất. Phía bạn có
cung cấp cho ta một bức không ảnh... - Anh mở nắp chiếc xà cột da
đeo bên người lấy ra một tấm ảnh màu to cỡ trang vở học sinh đặt
lên bàn - ... tất nhiên không phải là ảnh gốc. Nó đã được phổ màu
và chụp lại.
Chúng tôi cùng rướn người tới nhìn. Trên tấm ảnh chỉ thấy những
mảng xanh đậm nhạt khác nhau bao quanh một đám màu vàng úa
có hình dạng như chiếc lá cây. Bên lề tấm ảnh có ký hiệu chỉ hướng
bắc nam.
Anh Hai Nguyên cười:
– Các đồng chí không phân biệt được gì bằng mắt thường đâu?
Ngay cả khi có ảnh gốc, cũng phải có máy chuyên dụng và chuyên
viên phân tích ảnh mới biết được. Lúc này tấm ảnh chỉ có ý nghĩa
hướng dẫn. Bộ phận kỹ thuật cho biết bức không ảnh này được
chụp từ độ cao khá lớn, chụp chính diện một khoảng mặt đất hình
vuông cạnh từ mười đến mười hai kilomet. Qua phân tích, địa hình
trong ảnh nếu mở rộng ra sẽ có dạng như một thung lũng. Xung
quanh là rừng già nguyên sinh, - anh chỉ những mảng màu xanh - ở
giữa là đồng cỏ dài chừng năm kilomet và rộng ba kilomet. Tọa độ
vỉa quặng nằm ngay dải rừng phía bắc đồng cỏ. Theo thông tin của
bạn, ở góc đông bắc đồng cỏ có một cây thủy tùng cổ thụ. - Nói đến
đây, anh nhìn anh Hùng và hỏi - Thế nào? Chuyên gia về rừng có
biết cây thủy tùng không?
Anh Hùng ngẫm nghĩ rồi đáp:
– Có phải loại tùng trên núi Yên Tử không ạ?
– Không phải! Theo một đồng chí phó tiến sĩ lâm sinh cho biết,
loài cây này thuộc họ tùng bách, thân thẳng dáng cao vút, tán lá
hình chóp, lá hình kim xanh quanh năm. Vỏ cây thủy tùng sần sùi,
lâu năm có thể bong ra từng mảng. Một đặc điểm nữa là nhựa của
nó rất độc... - Anh chợt cười - Nghe như bài giảng thực vật ấy nhỉ?
Tôi cũng chỉ nói lại những điều hỏi được, biết đâu nó sẽ có ích cho
các đồng chí! Thủy tùng là loài cây của xứ lạnh, phát triển nhiều vào
thời trung cổ, không hiểu sao ở nước ta còn sót lại cây này? Nhưng
chính vì hiếm như thế nên nó là dấu hiệu quan trọng để giúp các
đồng chí xác định đúng khu vực phải tới.
Anh bưng chén nước nhấp một ngụm rồi nói tiếp:
– Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đang đi vào giai đoạn
ác liệt nhất, ta đang phải tập trung tất cả cho chiến đấu. Việc tìm
kiếm thăm dò trong lúc này sẽ rất khó khăn, nhất là không thể tổ
chức quy mô vì nhiều lý do khác nhau. Chắc các đồng chí cũng tự
hỏi: Tài nguyên của ta, của cải của ta, ta lấy lúc nào mà chẳng
được? "Cơm chưa nấu thì gạo còn đó..." Nhưng tình hình không cho
phép như vậy. Theo tài liệu tình báo ta nắm được, một nhân viên
CIA có cỡ vừa được điều tới phân vụ CIA ở Sài Gòn đang chú ý đặc
biệt đến địa bàn này. Đây là vùng không cần thiết phải có cứ điểm
quân sự, địa hình hiểm trở, khí hậu khắc nghiệt và không có nhánh
đường nào thuộc tuyến đường Trường Sơn chạy qua. Ta chưa biết
địch có ý đồ gì, nhưng nguồn tin này rất đáng lưu ý bởi có sự trùng
hợp là tọa độ mà ta quan tâm nằm trong khu vực này. Trung ương
đã chỉ thị cho bên tình báo tiếp tục khai thác nguồn tin đó, đồng thời
yêu cầu các cơ quan lưu trữ thu thập nghiên cứu các tài liệu lịch sử
để tìm những thông tin có liên quan.
Tình hình là thế. Giờ chắc các đồng chí đã hiểu vì sao ta phải tổ
chức tìm kiếm trong lúc nước sôi lửa bỏng này. Hơn nữa trong đó
mùa mưa thường bắt đầu từ tháng sáu, mà bây giờ đã là đầu tháng
tư, cần phải tiến hành gấp trước khi mưa tới...
Nói đến đây anh ngừng lại, mắt nhìn ra xa như đang nghĩ tới điều
gì. Chúng tôi yên lặng chờ đợi. Lát sau anh mới chậm rãi nói tiếp:
– Tổ của các đồng chí được đặt tên là TK1. Như vậy, sẽ có
những toán TK tiếp theo. TK1 vừa có nhiệm vụ mở đường, vừa tìm
kiếm thăm dò, vừa phải chiến đấu khi cần thiết. Nhiệm vụ rất nặng
nề. Các đồng chí phải xuyên rừng nhiều ngày trên một địa bàn xa lạ
hiểm trở, không dân cư và có thể gặp địch. Trong suốt chuyến đi sẽ
không có sự liên lạc nào với trên, với các đơn vị bạn. Mặt trận sẵn
sàng cung cấp cho TK1 những phương tiện thông tin tốt nhất mà ta
hiện có, nhưng với cự ly đó, những bộ máy thích hợp lại quá cồng
kềnh. Do vậy, khi gặp trở ngại, các đồng chí phải hoàn toàn dựa vào
sức mình chứ không có sự giúp đỡ hỗ trợ nào khác. Chúng ta không
thể tính trước từng phương án cho mỗi tình huống, nhưng bất kỳ
trường hợp nào các đồng chi cũng phải tỉnh táo vận dụng tất cả khả
năng và kinh nghiệm của mình để hành động. Những gì các đồng
chí đã học, đã rèn luyện được qua thực tế công tác chiến đấu, mọi
kiến thức, mọi hiểu biết từng người tích lũy được tử trước đến nay
đều có thể cần đến. Không có trở ngại nào là không thể vượt qua,
nếu chúng ta vững vàng và biết suy nghĩ đúng hướng. Theo kế
hoạch, đường về là đi ngược lại con đường đã đi, nhưng không phải
lúc nào mọi việc cũng diễn ra đúng như dự kiến. Các đồng chí cần
hết sức linh hoạt, tận dụng mọi cơ hội. Và tôi xin nói rằng trong kế
hoạch này, yêu cầu cao nhất là sự trở về của TK1, cho dù không tìm
ra vỉa quặng. Người ta bảo: khi giải một bài toán mà chứng minh
được đề bài ra sai thì coi như hoàn thành phép giải. Còn trong
trường hợp này, chỉ cần xác định cách giải hiện tại không đúng để
tìm cách giải khác, đã là có kết quả. Tất nhiên khi trở về mà mang
theo kết quả tìm kiếm mỹ mãn thì đó là một thắng lợi toàn diện rồi...
Nghe đến đây, bốn chúng tôi đưa mắt nhìn nhau. Ai cũng cảm
động trước sự tin cậy của anh Hai Nguyên. Anh tin chúng tôi sẽ làm
hết sức mình mới chịu quay về.
Sau đó, anh phổ biến cho chúng tôi mật hiệu liên lạc khi cần thiết.
Mật hiệu rất ngắn gọn: nếu nhận được tin "Hoa mai đã nở”, thì đấy
là tín hiệu của tổ tôi báo về, bộ phận chỉ đạo sẽ có cách liên lạc trở
lại. Còn nếu nhận "Hoa mai vàng đã nở” có nghĩa chúng tôi phát
hiện được mục tiêu. Các tỉnh lân cận và các đơn vị bộ đội đóng trên
những địa bàn có liên quan sẽ được thông báo và hướng dẫn cách
xử li khi có người đưa ra tín hiệu này. Đây cũng là mật hiệu để nhận
biết các toán TK tiếp theo.
Anh Hai Nguyên nhìn đồng hồ rồi nói:
– Như vậy tôi đã phổ biến xong. Chắc các đồng chí còn nhiều
điều muốn hỏi, nhưng chưa vội. Giờ cứ nghe tiếp công tác chuẩn bị
và bàn bạc suy nghĩ. Sáng mai ta sẽ cùng nhau trao đổi kỹ hơn.
Anh đưa mắt ra hiệu. Đồng chí thiếu tá đứng lên mỉm cười nhìn
chúng tôi:
– Tôi được giao nhiệm vụ chuẩn bị và hỗ trợ cho TK1. Bây giờ tôi
trình bày về tuyến đường mà các đồng chí sẽ đi, sau đó là phần hậu
cần.
Theo dự kiến, sẽ có xe đưa các đồng chí ngược lên miền tây
Quảng Bình sang Lào rồi theo đường Trường Sơn đi về phía nam.
Đến khe Trầm, - Anh chỉ trên bản đồ - các đồng chí đổ bộ và từ đó đi
thẳng tới tọa độ cần tìm. Trên bản đồ, đoạn này đo được một trăm
mười bảy cây số, tính theo đường chim bay. Từ đây tới gần bắc
đường Chín, có những chặng xe có thể chạy ban ngày. Từ đường
Chín vào xe phải chạy đêm. Vùng này khá nguy hiểm vì thỉnh thoảng
có thám báo địch hoạt động...
Chúng tôi nhìn bản đồ: địa điểm được gọi là khe Trầm nằm trên
đất Lào, gần như đối diện với A Lưới (Thừa Thiên) qua đường biên
giới. Từ đó, chúng tôi phải đi về hướng đông nam, vượt qua biên
giới Lào - Việt vào phần đất nhô ra ngoài cùng của tỉnh Quảng Nam.
Đồng chí thiếu tá nói tiếp:
– Trên cũng đã cân nhắc khả năng đi từ hướng đông lên. Đi theo
hướng này sẽ tranh thủ được sự giúp đỡ của đồng bào ở các bản
dân tộc để tiếp cận mục tiêu gần hơn, nhưng hiện tại có nhiều trở
ngại mà ta chưa thể khắc phục được. Vì thế, con đường tôi vừa
trình bày vẫn là phương án tối ưu lúc này. Còn về hậu cần, đoàn
559 được lệnh cung cấp cho TK1 những thứ tốt nhất hiện có. Đây là
danh mục các trang bị cần thiết cho chuyến đi. - Anh đưa cho chúng
tôi tờ giấy đánh máy - Tuy nhiên, các đồng chí mới là người quyết
định những gì cần mang theo...
Cuộc họp kết thúc lúc trời sắp tới. Sau khi tiễn anh Hai Nguyên
và đồng chí thiếu tá ra cửa, chúng tôi quay vào ngồi xuống bên bàn.
Chưa ai nói gì. Tất cả đều đang suy nghĩ về những điều vừa được
nghe. Hơi lâu sau, anh Đằng lên tiếng:
– Chuyến đi này có vẻ như là một cuộc thám hiểm ấy nhỉ? Vào
bộ đội mười mấy năm, làm đủ mọi thứ việc, nhưng chưa khi nào
mình nghĩ tới chuyện có lúc sẽ đi tìm vàng.
Mọi người cùng cười. Anh Hùng hỏi:
– Này Sơn, chắc cậu đi tìm vàng nhiều rồi phải không - Nghề của
tôi mà?
– Anh Sơn đáp - ở miền Bắc ta đã tìm được một số nơi có vàng,
nhưng thường là vàng ở dạng sa khoáng, chưa bao giờ phát hiện ra
quặng vàng có hàm lượng cao. Nghe nói tại các mỏ vàng ở châu
Mỹ, tảng quặng vàng lớn nhất cũng chỉ nặng mấy chục ký là cùng.
Cho nên tôi rất ngạc nhiên khi có vỉa quặng vàng được phát hiện
qua vệ tinh... Tôi chợt nghĩ, biết đâu Liên Xô họ phát hiện vỉa quặng
từ một nguồn khác, nhưng vì lý do tế nhị nào đó nên không thể nói
thẳng ra được. Hiện nay Liên Xô, và cả Mỹ, đã có nhiều thành tựu
trong sử dụng vệ tinh vào những lĩnh vực khác nhau, kể cả việc
thăm dò tài nguyên khoáng sản, nhưng những kỹ thuật tiên tiến nhất
chủ yếu vẫn tập trung cho lĩnh vực quân sự, tình báo...
Tôi háo hức hỏi:
– Theo anh, liệu ta có tìm được vỉa quặng vàng lớn không?
Anh Sơn tủm tỉm:
- Mọi điều đều có thể xẩy ra, nhưng phải tới nơi mới biết?
Anh Đằng cười:
– Cậu Hải yên trí? Thế nào cũng tìm ra, cậu chuẩn bị sức để
mang, mà nhớ là chỉ được "may túi ba gang” thôi đấy...
Anh Đằng nói đúng. Chúng tôi phải tính toán, chỉ mang theo
nhưng thứ thật cần thiết. Bàn mãi, cuối cùng cũng quyết định: Về vũ
khí, ba chúng tôi mỗi người một AK báng gấp, riêng anh Sơn chỉ
mang K54 vì còn phải đem theo một số dụng cụ cần cho việc thăm
dò địa chất. Súng của chúng tôi còn tốt, không cần cấp mới. Lựu
đạn, thuốc nổ cũng c...
Tác giả: Phan Văn Lợi
Nhà xuất bản: Công an Nhân dân
Năm xuất bản: 2002
Nguồn: ptlinh, chienvit (quansuvn.net)
Ebook: do_long_khanh, TVE
Epub (02/2019): @lamtam, tve-4u.org
Giới thiệu
Vào 1 ngày đẹp trời sau Mậu Thân 68, Vệ Tinh của Liên Xô bỗng
phát hiện ra dấu vêt rõ ràng của kim loại quý tại vùng rừng hẻo lánh
sát biên giới Lào của tỉnh Quảng Nam. Một mỏ vàng lộ thiên hay một
kho vàng cũ của phát xít Nhật? Một đội đặc nhiệm được thành lập
để thực hiện cuộc tìm kiếm. Đội mang tên TK1, bao gồm 4 thành
viên:1 chiến sĩ an ninh, 2 trinh sát đặc nhiệm và 1 cán bộ địa chất
giàu kinh nghiệm.
4 người đã tiến hành tìm kiếm xuyên qua vùng rừng nguyên sinh
hầu như chưa có dấu chân người, qua nhưng nghĩa địa voi, rừng
khô cháy, núi cao, vực sâu. Người cán bộ địa chất bất ngờ gặp tai
nạn và hy sinh khi vượt vực, mang theo mọi bản đồ và la bàn. 3
người còn lại tiếp tục hành trình bằng kinh nghiệm của thợ săn. Khi
đến đúng địa điểm đánh dấu trên bản đồ, họ bị trực thăng của kẻ thù
phát hiện và săn đuổi.
Chương I
Buổi chiều một ngày đầu tháng 4 năm 1969.
Đang chuẩn bị cho chuyến đột nhập về vùng ven thị xã Quảng
Trị, tôi bỗng được lệnh lên gặp ông Thủy để nhận công tác gấp.
Chia tay với Bằng và Dũng, hai người đồng đội cùng tổ trinh sát, tôi
vội vã đi lên khu hầm chỉ huy, trong lòng thấp thỏm. Vẫn biết đi công
tác đột xuất đồi với lính an ninh là chuyện thường tình, nhưng đích
thân đồng chí trưởng ty giao nhiệm vụ thì hẳn là công việc rất quan
trọng...
Ông Thủy rút từ cặp hồ sơ ra tờ giấy ghi điện mật, nhưng không
đưa cho tôi mà giơ lên trước đèn, vừa nhìn bức điện vừa nói:
– Tôi mới nhận được điện của Khu ủy, trên ấy điều cậu đi công
tác gấp. Trong điện ghi đích danh nên không thể thay bằng người
khác được. Chính vì thế mà tôi phải cho đồng chí Diễn xuống ngay,
sợ các cậu đi rồi thì lỡ việc. Thế nào, đột xuất như vậy có ảnh
hưởng gì tới công việc của tổ cậu không?
– Báo cáo, không sao ạ! Đồng chí Bằng đảm đương được, cậu
Dũng cũng quen rồi. Nhưng có việc gì mà Khu ủy điều đến tôi ạ?
Ông Thủy nhìn tôi, mắt thoáng cười sau cặp kính loáng ánh đèn:
– Đừng sốt ruột? Cậu đã biết rồi, có những việc khi bắt tay vào
làm mới rõ. - Ông ngừng lại như để cân nhắc điều gì, rồi nói tiếp Riêng trong chuyện này, tôi cũng mới nắm những nét chung nhất
thôi. Về phần cậu chỉ cần nhớ: Khu ủy điều cậu đi công tác gấp,
trong chiều mai phải có mặt ở T.2. Đường xa lại khó đi, cậu phải lên
đường ngay mới kịp.
Ông mở cặp hồ sơ trên bàn, lấy ra tờ giấy giới thiệu:
– Không có lệnh điều động đâu! Tôi đã viết sẵn giấy giới thiệu
cho cậu. À, trong điện nói rõ: chỉ mang theo vũ khí và tư trang cần
thiết. Những thứ cần dùng cho công tác sắp tới sẽ lĩnh ở T.2. Cậu
cần bao lâu để chuẩn bị?
– Báo cáo, tôi đi ngay được ạ!
– Tốt! Đây là mật khẩu đêm nay trên đường giao liên, đọc xong
nhớ kỹ rồi đưa lại cho tôi. - Ông đưa tôi mảnh giấy nhỏ - Tôi đã điện
hỏi bên giao liên, đường đêm nay yên, đi được.
Tôi đọc mật khẩu rồi đưa trả mảnh giấy. Mật khẩu rất dễ nhớ.
Còn tờ giấy giới thiệu tôi gấp lại, cẩn thận cho vào bao nilong, cất
trong túi áo ngực. Nội dung giấy giới thiệu cũng như thường lệ, chỉ
phần lý do công tác lại ghi: "Gặp anh Hai Nguyên", rất cụ thể nhưng
khó hiểu.
Ông Thủy tháo kính, ngả người vào lưng ghế:
– Cậu còn hỏi gì nữa không?
Tôi chưa trả lời ngay, trong đầu thoáng nghĩ về chặng đường sắp
tới. Chưa đến T.2 lần nào, nhưng tôi biết đó là trạm giao liên thuộc
đường dây 559, chuyên đưa đến các đoàn cán bộ vào ra công tác ở
Trị Thiên. Trạm nằm ở phía tây Vĩnh Linh, đâu như trong một cánh
rừng thuộc Bãi Hà. Như vậy đêm nay tôi lại đi ra Bắc, ngược hướng
với Bằng và Dũng. Sẽ vượt sông Bến Hải ở Bến Than. Sức trai hăm
ba tuổi lại quen vất vả từ nhỏ, chặng đường này đối với tôi chẳng
mùi mẽ gì.
Ngẩng đầu lên, thấy ông Thủy vẫn đang chờ trả lời, tôi vội đáp:
– Báo cáo, rõ cả rồi ạ! Chỉ có đoạn từ Bến Than đến T.2 tôi chưa
đi lần nào...
– Qua Bến Than, cậu phải đi gần một ngày nữa. Tới đó đã là đất
miền Bắc, cứ hỏi đường lên Bãi Hà, sẽ có người đến. Nhưng nhớ
giữ kỹ giấy giới thiệu. Không có nó, cậu không đi được bước nào
trên đất Vĩnh Linh đâu. À, cậu quê ngoài đó cơ mà, còn lạ gì nữa!
Ông đứng dậy tới bên chiếc ba lô treo ở vách hầm, lấy ra hai
phong lương khô đưa cho tôi:
– Cầm lấy ăn dọc đường. Chỉ đi trong một ngày đêm, khỏi cần
xuống hậu cần nhận gạo. Vả lại đi gấp cũng chẳng kịp nấu cơm. Mà
ra quê cậu đâu có lo đói. Này, cậu biết anh Hai Nguyên rồi phải
không?
– Dạ, đã gặp vài lần rồi ạ! Anh Hai Nguyên là cán bộ lãnh đạo
của Khu ủy, tôi có gặp mấy lần khi anh về Ty an ninh làm việc. Đó là
người lãnh đạo mà lính an ninh chúng tôi hết lòng kính phục. Anh có
tác phong giản dị, cách nói chuyện rất hấp dẫn, vừa sâu sắc vừa dí
dỏm. Cánh trinh sát bên Tỉnh đội kể mãi về chuyện trước Mậu Thân,
anh cùng lính đặc công mặc đồ cụt ngụy trang cắp AK bò vào tan
sân bay Ái Tử, thành thạo không kém bất cứ một chiến sĩ đặc công
dày dạn nào. Về tuổi tác, đáng ra như tôi phải gọi anh bằng chú,
nhưng anh dặn chúng tôi cứ gọi bằng anh cho dễ xưng hô và để anh
được trẻ lâu...
Thấy ông Thủy nhìn đồng hồ, tôi vội nhìn xuống chiếc "Pônzốt”
đeo ở cổ tay: đã bảy giờ tối.
– Thôi, cậu đi được rồi đấy?
Ông đứng dậy cầm chiếc ba lô nhẹ tênh giúp tôi khoác lên vai và
đi cùng tôi ra tới cửa hầm ngoài cùng. Đặt cả hai tay lên vai tôi, ông
thân mật nói:
– Mình chưa biết cụ thể công việc sắp tới của cậu, nhưng chuyến
đi này có lẽ dài ngày. Vậy chúc cậu lên đường may mắn và mạnh
khoẻ. Trước lúc cậu đi, mình chỉ dặn một điều: Khi trên đã điều động
một người lính an ninh, thì có nghĩa công việc sắp tới không chỉ cần
đến lòng dũng cảm trung thành, mà còn cần cả kinh nghiệm, sự hiểu
biết và bản lĩnh của một chiến sĩ an ninh. Thôi, đi nhé!
Cảm động trước lời dặn dò chân tình của ông, tôi bối rối nên chỉ
đáp ấp úng: "Chào thủ trưởng, tôi đi ạ"' ông bắt tay tôi lần cuối rồi
quay vào hầm.
Xốc lại chiếc ba lô và khẩu súng trên vai, tôi bước ra mé đồi đưa
mắt tìm lối đi. Lúc đó tôi đâu có ngờ rằng mình đang bước những
bước đầu tiên của một chuyến đi dài ngây, một chuyến đi kỳ lạ
chẳng hề giống bất cứ chuyến công tác nào trước đó.
Sau gần một đêm và một ngày cuốc bộ thật lực, tôi tới trạm
khách của T.2 đúng giờ qui định nhưng không gặp anh Hai Nguyên,
chỉ nhận được mẩu giấy của anh gửi lại với nội dung ngắn và rõ như
một mệnh lệnh: "Nghỉ ngơi và chờ đợi”.
Đêm ấy tôi mắc võng nằm một mình trong căn nhà vắng ở góc
rừng, trằn trọc mãi bởi tâm trạng nôn nao trước công việc sắp tới,
mà đến lúc này vẫn chưa biết được là việc gì.
Sáng hôm sau khi từ dưới suối lên, tôi nghe trong nhà có tiếng
người, chắc có ai mới đến. Đang định phơi bộ quần áo vừa giặt,
bỗng thấy một người mặc quan phục hiện ra trước cửa, nụ cười
tươi rói trên khuôn mặt ngăm đen thân thiết. Tôi ngớ người rồi bật
reo: "A, anh Đằng!" Ném bộ quần áo ướt lên chiếc sào tre, tôi nhào
tới ôm chầm lấy anh. Anh cười khà khà:
– Chưa hết! Ai đây?
– Anh né sang một bên.
– Ôi! Cả anh Hùng nữa! Các anh đi đâu vậy? - Tôi hỏi một câu
khá ngớ ngẩn.
– Đi với cậu chứ đi đâu? Vào đây? Vào đây nói chuyện.
Chúng tôi ngồi xuống bên bàn, ngắm nhìn nhau.
– Các anh vẫn thế, chẳng thay đổi gì cả? - Tôi nói.
– Thay đổi thế nào được, bọn mình vẫn khỏe như vâm. Tới trạm
nghe ông Hai Nguyên bảo xuống đây sẽ gặp người quen. Gặng mãi
ông ấy chẳng nói, chỉ tủm tỉm cười. Ai ngờ lại là cậu…
Nói chuyện một lúc, rồi tôi dẫn các anh ra suối. Hai anh xuống
tắm, còn tôi ngồi giặt giúp mấy bộ quần áo. Câu chuyện vẫn sôi nổi
không dứt.
Thì ra các anh vẫn chưa biết ra đây làm nhiệm vụ gì. Đang hoạt
động ở phía bắc đường Chín bên đất Lào, nhận được điện là lên
đường ngay. Đi suốt đêm ra tới đường Trường Sơn, vẫy một chiếc
xe con, may gặp đồng chí cán bộ đoàn 559 là người quen của anh
Đằng đi Hà Nội họp. Anh ấy cho xe chở tận Bãi Hà.
Anh Đằng và anh Hùng là trinh sát quân báo của một sư đoàn
chủ lực chuyên hoạt động ở chiến trường Quảng Trị, Nam Lào. Tôi
quen các anh trong một trường hợp khá đặc biệt mà có lẽ chẳng ai
muốn có một dịp như vậy để làm quen với nhau. Hôm ấy tổ công tác
của chúng tôi đang trên đường trở về hậu cứ sau một chuyến công
tác. Thời gian này địch nống ra đánh phá ác liệt hòng đẩy bộ đội ta
lên xa trên núi. Sau Mậu Thân lực lượng ta tổn thất khá nhiều. Các
cơ sở nằm vùng phần bị bắt, phần bị lộ phải nít ra nên công tác của
chúng tôi gặp rất nhiều khó khăn. Hôm ấy có việc gấp nên chứng tôi
đi từ trưa. Lúc ngang qua dãy đồi sim ở vùng tây Cam Lộ, chúng tôi
gặp một đơn vị đang bị phục kích. Đó là tổ trinh sát của anh Đằng và
anh Hùng. Chúng tôi đã cùng lợp sức diệt gọn toán thám báo địch.
Rồi quen nhau từ đó.
Về sau, thỉnh thoảng có dịp công tác qua, các anh lại ghé vào
hậu cứ Ty an ninh thăm chúng tôi. Có lần anh Đằng đưa cho tôi một
tờ báo của Quân khu, trong đó có đăng bài viết về trận đánh nhỏ
của chúng tôi. Bài báo biểu dương tổ trinh sát của tôi, nói đó là trận
đánh phản phục kích, đánh phối hợp theo tiếng súng tuyệt đẹp...
Chẳng biết anh Đằng đã kể gì với nhà báo, chứ chúng tôi thì lại
hết sức cảm phục các anh. Bị phục kích bất ngờ như thế, trước một
khẩu trung liên và nửa tá nòng tiểu liên bắn như đổ đạn, nhưng vẫn
đánh trả được và chỉ bị thương nhẹ có hai người, chứng tỏ các anh
là những người lính trinh sát dạn dày bản lĩnh mà còn lâu cánh lính
trẻ chúng tôi mới theo kịp...
Vì vậy tôi rất mừng khi được đi với hai anh trong chuyến công
tác, dù chưa biết sẽ làm công việc gì.
Đợi hai anh tắm xong, chúng tôi cùng lên nhà. Vừa bước vào cửa
đã thấy anh Hai Nguyên ngồi uống nước trà bên bàn, ung dung như
một thầy giáo đang đợi trống đánh báo giờ vào lớp.
– Thế nào, đã kịp làm quen với nhau rồi phải không? - Anh nheo
mắt hóm hỉnh.
Cả ba chúng tôi cùng bật cười. Anh Đằng trả lời:
– Thế mà hỏi mãi anh không nói. Ai chứ Hải với bọn em còn hơn
cả ruột thịt...
– Biết thế nên mình mới để các cậu đi với nhau chuyến này.
Nhưng việc đó nói sau, đang còn đợi một cậu nữa từ Hà Nội vào.
Giờ các cậu cứ phải nghỉ ngơi thôi. Tuyệt đối không được sốt ruột
đấy nhé. Mình đi đây? Nếu tối nay rảnh, sẽ xuống ngủ với các cậu
một đêm.
Nói xong, anh đứng dậy, thân mật vỗ vai từng người rồi nhanh
nhẹn bước ra cửa. Đã quen với tác phong của anh nên chúng tôi
không ngạc nhiên.
Đến chiều, chúng tôi ra ngồi dưới gốc cây, lại hàn huyên mãi
không thôi. Anh Hùng lấy trong ba lô ra gói lạc và kí đường, trổ tài
nấu một mẻ kẹo. Kẹo lạc anh nấu rất ngon, nhưng vừa ăn vừa phải
bóc giấy báo dính sau lớp kẹo vì không có bánh tráng để đổ.
Lúc sẩm tối, anh Hai Nguyên ôm võng xuống ngủ với chủng tôi.
Bốn chiếc võng mắc chụm đầu vào cây cột giữa nhà. Chúng tôi rủ rỉ
trò, chuyện đến nửa đêm. Khi nghe anh hỏi chuyện, tôi thấy anh biết
khá rõ hoàn cảnh gia đình của mỗi chúng tôi. Đến lúc nghe anh kể
về mình, mới biết anh quê Quảng Nam chứ không phải ở Nam Bộ
như lâu nay tôi vẫn tưởng. Vì ít được tiếp xúc nên tôi không rành
phân biệt giọng nói người miền trong. Hơn nữa, cái tên Hai Nguyên
cùng với phong thái cởi mở sôi nổi làm anh có dáng dấp của một
"anh Hai Nam Bộ" trong suy nghĩ của tôi.
Quê anh ở cạnh con sông Thu Bồn, một làng quê nghèo và hiền
lành như bao làng quê miền Trung. Nhà anh chỉ có hai anh em. Cha
mẹ anh mất sớm, lúc đó anh mười tuổi còn người anh trai mười lăm.
Vốn xuất thân từ một gia đình có truyền thống hiếu học nên cả hai
anh em đều sáng dạ, ham học. Bà con nội ngoại thấy vậy đã xúm lại
giúp hai anh em theo việc đèn sách. Anh cùng anh trai vào Quy
Nhơn ở nhờ nhà một người bà con xa làm nghề buôn bán, vừa đi
học vừa phụ giúp bán hàng và tính toán sổ sách để có thêm chút ít
thu nhập ngoài số tiền nhỏ mà bà con ở quê thỉnh thoảng gửi vào.
Năm 1943 cả hai anh em cùng lúc thi đỗ diplome khiến họ hàng gần
xa ai cũng tự hào và hả dạ. Ở quê, có những dòng họ giàu có sẵn
sàng chu cấp cả trăm lần hơn thế cho con cháu ăn học, mà đâu có
ai được như vậy. Anh trai anh vẫn tiếp tục học lên. Nhưng anh thấy
số tiền ít ỏi mà bà con làng xóm gom góp chu cấp không kham nổi
việc hai anh em cùng học, nên anh tự ý nghỉ, đi làm nghề dạy kèm
để kiếm thêm, dù người anh hết sức can ngăn và la mắng.
Năm Tổng khởi nghĩa cướp chính quyền, anh trở ra quê hăng hái
tham gia phong trào ở địa phương. Trong những ngày sôi nổi ấy,
anh lăn vào tất cả mọi công việc mà chính quyền Cách mạng non trẻ
ở quê cần đến, từ dựng cổng chào, cắt khẩu hiệu, dạy bình dân học
vụ cho tới tập quân sự, tuần tra canh gác... Khi những chuyến tàu
rầm rập ngày đêm chở thanh niên trai tráng "Nam tiến" chạy qua cái
thị xã Đà Nẵng nồng mùi cá biển, thì anh không còn chịu được nữa.
Anh nhảy lên một chuyến tàu như thế, bằng mọi cách năn nỉ với
đồng chí chỉ huy cho đến lúc được nhận theo. Từ đó anh đã đi qua
nhiều miền đất, nhiều chặng đường gian truân của cuộc kháng chiến
chống Pháp. Năm 1954, anh là trung đoàn trưởng chỉ huy một trung
đoàn tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử. Hòa bình, anh ở lại
miền Bắc tham gia xây dựng quân đội. Vì vậy kể từ ngày bám theo
đoàn tàu Nam tiến đến mãi sau này, anh không nhận được tin gì về
anh trai mình. Anh không bao giờ quên được những ngày tháng
gian nan khốn khó hai anh em mồ côi cha mẹ đùm bọc nương tựa
vào nhau trong sự cưu mang của bà con họ hàng. Hình ảnh ngôi
nhà tranh bé nhỏ có cây mai già mọc trước mảnh sân đầy rêu, nơi
hài anh em anh sinh ra và lớn lên, luôn hiện ra trong tâm trí những
lúc anh nhớ về quê nhà, về người anh trai của mình. Mỗi khi xuân
đến, màu hoa mai nở vàng rực càng làm cháy lên trong anh nỗi khát
khao trở về sững và chiến đấu trên mảnh đất quê hương.
Năm 1959, anh được điều sang đoàn cán bộ vào Nam tăng
cường cho Khu ủy Trị Thiên. Hai năm sau, nhân gặp một người bạn
ở Tỉnh ủy Quảng Nam ra Bắc công tác, anh mới biết anh trai mình
hiện đang sống ở Sài Gòn, là giáo sư dạy sử ở một trường dại học.
Anh ấy đã lập gia đình, có hai con, một trai một gái...
Anh kể tiếp:
– Trước sáu tám, mình được tin anh mình chuyển ra sống ở Đà
Nẵng. Nghe nói ông đã bỏ nghề dạy học, giờ chỉ ở nhà viết sách.
Còn đứa cháu trai thì đi lính ngụy, hình như làm "philốt". Không biết
đã có khi nào nó ném bom xuống đầu chú nó chưa...,
Anh cười buồn, ngưng một lúc rồi mới nói tiếp:
– Dạo Mậu Thân, mình có nhờ bạn bè trong đó tìm kiếm. Sau này
anh em báo ra là đã móc được với anh mình, nhưng chưa kịp nhận
hồi âm vì tình hình lúc đó diễn ra ác liệt quá... Mình chỉ mong hai
anh em còn sống đến ngày hòa bình để được ôm lấy nhau, để dắt
nhau về lại ngôi nhà nhỏ có cây mai già ấy mà thắp cho ông bà cha
mẹ mấy nén hương...
Trong đêm khuya thanh vắng, câu chuyện về gia đình qua giọng
kể thủ thỉ buồn buồn của anh làm chúng tôi nao cả lòng. Tôi không
ngờ người cán bộ lãnh đạo lúc nào cũng nhiệt tình sôi nổi và hóm
hỉnh đó lại chứa chất trong lòng một tâm sự da diết đến như thế.
Sáng hôm sau tỉnh giấc, thấy anh Hai Nguyên đã dậy cuốn võng
đi từ lúc nào. Anh Đằng cười:
– Ông này đúng là đặc công thứ thiệt. Đi lúc nào mà êm ru, mình
chẳng hay biết gì cả!
Nhưng chỉ nửa giờ sau anh lại đến. Cùng đi với anh có một
người trạc tuổi anh Hùng, dáng cao cao, nước da trắng, mặc bộ
quân phục và đeo chiếc ba lô cóc mà tất cả đều còn mới tinh như
vừa nhận từ trong kho ra.
Vừa bước qua cửa, anh Hai Nguyên nói ngay:
– Vậy là người thứ tư đã tới. Giới thiệu với các cậu, đây là đồng
chí Sơn, kỹ sư địa chất, mới từ Hà Nội vào. Sáng nay các cậu nghỉ
ngơi, làm quen với nhau. Chiều hai giờ ta làm việc nhé! - Anh cười,
vẫy tay chào rồi quay người đi ngay.
Tôi bước tới, giúp anh Sơn cởi ba lô đặt trên bàn:
– Anh ngồi nghỉ, lát rồi em dẫn xuống suối tắm cho mát!
Anh Đằng róc nước ra chén, đưa mời:
– Đồng chí Sơn uống nước? Đồng chí quê ở đâu nhỉ?...
Cứ thế, chỉ lát sau là chúng tôi đã cởi mở trò chuyện thân tình.
Riêng tôi vẫn phân vân không biết vì sao anh Sơn lại đi với chúng
tôi. Trông anh đúng là dân trí thức chính cống, lại mới từ Hà Nội vào.
Tôi thì chẳng đáng nói, chứ trên đã điều những người như anh Đằng
và anh Hùng cho chuyến công tác này, hẳn công việc đâu có đơn
giản... Sau này tôi phải tự xấu hổ với những suy nghĩ ban đầu của
mình. Qua câu chuyện, chúng tôi được biết anh Sơn là kỹ sư địa
chất, chuyên đi tìm kiếm khảo sát các mỏ kim loại màu và đá quí.
Suốt sáu năm từ khi tốt nghiệp ra trường cho đến nay, hầu như anh
lang thang trong rừng, đặt chân lên nhiều miền núi non của tổ quốc,
từ Nghệ An, Thanh Hóa cho tới những dãy núi trùng điệp ở Đông
Bắc, Tây Bắc. Chỉ những lúc phải về phân tích mẫu, lập đồ bản...
anh mời làm việc ở Hà Nội. Đúng là người ta rất dễ nhầm lẫn nếu
đánh giá một con người chỉ qua dáng vẻ bên ngoài.
Anh Đằng vô cùng mừng rỡ khi biết anh Sơn đồng hương với
anh, mà lại là đồng hương tầm gần, có nghĩa cùng huyện, chứ
không phải loại đồng hương pháo tầm xa cũng không với tới. Quê
anh Sơn ở gần núi Gội, còn nhà anh Đằng ở cạnh ga Cát Đằng (tỉnh
Nam Định), chỉ cách nhau chừng mười cây số, gọi là ga trước ga
sau của một chuyến tàu chợ. Anh Sơn đã lập gia đình, chị ấy dạy
học ở trường cấp hai trong xã. Hai anh chị sinh được một cháu gái,
năm nay cháu ba tuổi.
Tôi nhường cho anh Đằng quyền được dẫn đồng hương xuống
suối tắm giặt để các anh có dịp tâm sự với nhau. Khi từ dưới suối
lên, nhìn nét mặt rạng rỡ của anh, tôi hiểu điều gì đã làm anh vui
đến vậy. Ở quê, gia đình anh chỉ còn mỗi mình ông cụ thân sinh. Mẹ
anh mất cách đây hai năm, nhưng mãi sau này anh mới biết tin. Hai
ông bà sinh được có mình anh... Năm 1956, theo ước nguyện của
bố, anh Đằng làm đơn tình nguyện vào trường thiếu sinh quân và
được chấp nhận, nhưng khi đến trường thì bị trả về với lý do quá
tuổi quy định, kèm theo lời xin lỗi gia đình về sự sơ suất trong xét
tuyển. Năm ấy anh mười tám tuổi. Anh không chịu về, mấy ngày liền
bám theo các anh cán bộ quân lực nằng nặc xin vào một trường
quân sự nào đó. Cuối cùng, anh được nhận vào trường bộ đội đặc
công. Hơn hai năm sau, anh đã là thành viên trẻ nhất trong đoàn
cán bộ đi mở đường Trường Sơn. Lăn lộn mải miết với các tuyến
đường hết đông lại sang tây Trường Sơn, đến năm 1965 anh được
điều về phòng quân báo của một sư đoàn chủ lực. Trong chừng ấy
năm có dăm lần về phép, mỗi lần mươi ngày, anh chỉ kịp giúp bố mẹ
lợp lại mái nhà hay làm cái chuồng lợn, chứ không đủ thời gian để
có thể tìm hiểu một cô nào đó mà lấy làm vợ. Lần về phép gần đây
nhất của anh cũng đã cách bốn năm...
Vì vậy việc bất ngờ gặp được người đồng hương ở nơi xa xôi
này và biết được những tin tức tốt lành còn nóng hổi về quê nhà sau
bao ngày xa cách, khiến anh vô cùng vui sướng.
Đúng như đã hẹn, anh Hai Nguyên đến lúc hai giờ chiều. Cùng đi
có một đồng chí thiếu tá mà anh giới thiệu là cán bộ tham mưu của
đoàn 559. Tôi có cảm giác chiếc quân hiệu lấp lánh trên mũ và đôi
cấp hàm đỏ chót nơi ve áo anh làm cho không khí trang nghiêm hẳn
lên.
Anh Hai Nguyên nói:
– Các đồng chí biết nhau cả rồi, nên ta vào việc luôn. Tôi được
Trung ương giao nhiệm vụ thành lập và chỉ đạo một tổ công tác đặc
biệt. Sau khi trao đổi bàn bạc với các đơn vị có trách nhiệm phối
hợp, tôi quyết định chọn bốn đồng chí để thành lập tổ công tác này.
Từ nay, các đồng chí là thành viên của tổ, đồng chí Đằng làm tổ
trưởng. Nhiệm vụ của các đồng chí là tìm kiếm một vỉa quặng vàng
được phát hiện qua vệ tinh của Liên Xô. Theo bạn, vỉa quặng này rất
đáng chú ý vì những số liệu kỹ thuật đều cho thấy nó có hàm lượng
vàng rất cao và chỉ phát hiện tập trung ở một nơi. Tọa độ của nó là...
Anh đọc tọa độ rồi cầm bút chì chỉ vào một điểm trên tấm bản đồ
tỉ lệ 1:100.000 mà đồng chí thiếu tá vừa trải lên bàn. Điểm anh chỉ
nằm ở phía tây tỉnh Quảng Nam, sát với biên giới Việt-Lào.
– Thế nào? - Nheo mắt nhìn chúng tôi, anh hỏi - Nhiệm vụ khá
bất ngờ và lý thú phải không? Nhưng cứ nghe tiếp đã nhé? Trong
cuộc họp vừa rồi ở Hà Nội, tôi được biết: Trung ương đã chỉ thị cho
các cơ quan có trách nhiệm nghiên cứu thông tin này, và đã có
nhiều ý kiến khác nhau. Một ý kiến cho rằng đây đúng là mạch
quặng vàng lộ thiên, dấu hiệu của mỏ vàng nằm sâu trong lòng đất.
Tọa độ được phát hiện ở phía trên mỏ vàng Bồng Miêu nhưng cách
khá xa, liệu có liên quan gì về mặt địa chất? Điều này rất khó xác
định do không đủ dữ liệu. Có ý kiến khác nêu ra nhận định: đây là
một kho vàng tồn tại do nguyên nhân lịch sử nào đó. Khả năng này
rất đáng chú ý. Trước đây nhân dân vùng núi Quảng Bình, Hà Tĩnh
đã từng phát hiện một số vàng thỏi và tiền vàng nhưng số lượng
không nhiều, xác định là vàng do vua Hàm Nghi mang theo khi ra
vùng này lập căn cứ chống Pháp. Có người nói đây có thể là vàng
mà quân Nhật vơ vét khi sang chiếm nước ta, rồi sau chúng đem thu
giấu vì không chuyển về nước được... Tình tiết này có thật trong lịch
sử, nhưng tọa độ phát hiện nằm giữa núi cao rừng thẳm, cách xa
các đường giao thông và khu dân cư, kể cả các bản làng của đồng
bào dân tộc, khó ai có thể vận chuyển lên cất giấu ở đó...
Cuối cùng cuộc họp quyết định phải tổ chức thăm dò tìm kiếm,
giao trách nhiệm cho tôi trực tiếp chỉ đạo với sự phối hợp về mọi
mặt của đoàn 559, quân khu Bốn và Tổng cục địa chất. Phía bạn có
cung cấp cho ta một bức không ảnh... - Anh mở nắp chiếc xà cột da
đeo bên người lấy ra một tấm ảnh màu to cỡ trang vở học sinh đặt
lên bàn - ... tất nhiên không phải là ảnh gốc. Nó đã được phổ màu
và chụp lại.
Chúng tôi cùng rướn người tới nhìn. Trên tấm ảnh chỉ thấy những
mảng xanh đậm nhạt khác nhau bao quanh một đám màu vàng úa
có hình dạng như chiếc lá cây. Bên lề tấm ảnh có ký hiệu chỉ hướng
bắc nam.
Anh Hai Nguyên cười:
– Các đồng chí không phân biệt được gì bằng mắt thường đâu?
Ngay cả khi có ảnh gốc, cũng phải có máy chuyên dụng và chuyên
viên phân tích ảnh mới biết được. Lúc này tấm ảnh chỉ có ý nghĩa
hướng dẫn. Bộ phận kỹ thuật cho biết bức không ảnh này được
chụp từ độ cao khá lớn, chụp chính diện một khoảng mặt đất hình
vuông cạnh từ mười đến mười hai kilomet. Qua phân tích, địa hình
trong ảnh nếu mở rộng ra sẽ có dạng như một thung lũng. Xung
quanh là rừng già nguyên sinh, - anh chỉ những mảng màu xanh - ở
giữa là đồng cỏ dài chừng năm kilomet và rộng ba kilomet. Tọa độ
vỉa quặng nằm ngay dải rừng phía bắc đồng cỏ. Theo thông tin của
bạn, ở góc đông bắc đồng cỏ có một cây thủy tùng cổ thụ. - Nói đến
đây, anh nhìn anh Hùng và hỏi - Thế nào? Chuyên gia về rừng có
biết cây thủy tùng không?
Anh Hùng ngẫm nghĩ rồi đáp:
– Có phải loại tùng trên núi Yên Tử không ạ?
– Không phải! Theo một đồng chí phó tiến sĩ lâm sinh cho biết,
loài cây này thuộc họ tùng bách, thân thẳng dáng cao vút, tán lá
hình chóp, lá hình kim xanh quanh năm. Vỏ cây thủy tùng sần sùi,
lâu năm có thể bong ra từng mảng. Một đặc điểm nữa là nhựa của
nó rất độc... - Anh chợt cười - Nghe như bài giảng thực vật ấy nhỉ?
Tôi cũng chỉ nói lại những điều hỏi được, biết đâu nó sẽ có ích cho
các đồng chí! Thủy tùng là loài cây của xứ lạnh, phát triển nhiều vào
thời trung cổ, không hiểu sao ở nước ta còn sót lại cây này? Nhưng
chính vì hiếm như thế nên nó là dấu hiệu quan trọng để giúp các
đồng chí xác định đúng khu vực phải tới.
Anh bưng chén nước nhấp một ngụm rồi nói tiếp:
– Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đang đi vào giai đoạn
ác liệt nhất, ta đang phải tập trung tất cả cho chiến đấu. Việc tìm
kiếm thăm dò trong lúc này sẽ rất khó khăn, nhất là không thể tổ
chức quy mô vì nhiều lý do khác nhau. Chắc các đồng chí cũng tự
hỏi: Tài nguyên của ta, của cải của ta, ta lấy lúc nào mà chẳng
được? "Cơm chưa nấu thì gạo còn đó..." Nhưng tình hình không cho
phép như vậy. Theo tài liệu tình báo ta nắm được, một nhân viên
CIA có cỡ vừa được điều tới phân vụ CIA ở Sài Gòn đang chú ý đặc
biệt đến địa bàn này. Đây là vùng không cần thiết phải có cứ điểm
quân sự, địa hình hiểm trở, khí hậu khắc nghiệt và không có nhánh
đường nào thuộc tuyến đường Trường Sơn chạy qua. Ta chưa biết
địch có ý đồ gì, nhưng nguồn tin này rất đáng lưu ý bởi có sự trùng
hợp là tọa độ mà ta quan tâm nằm trong khu vực này. Trung ương
đã chỉ thị cho bên tình báo tiếp tục khai thác nguồn tin đó, đồng thời
yêu cầu các cơ quan lưu trữ thu thập nghiên cứu các tài liệu lịch sử
để tìm những thông tin có liên quan.
Tình hình là thế. Giờ chắc các đồng chí đã hiểu vì sao ta phải tổ
chức tìm kiếm trong lúc nước sôi lửa bỏng này. Hơn nữa trong đó
mùa mưa thường bắt đầu từ tháng sáu, mà bây giờ đã là đầu tháng
tư, cần phải tiến hành gấp trước khi mưa tới...
Nói đến đây anh ngừng lại, mắt nhìn ra xa như đang nghĩ tới điều
gì. Chúng tôi yên lặng chờ đợi. Lát sau anh mới chậm rãi nói tiếp:
– Tổ của các đồng chí được đặt tên là TK1. Như vậy, sẽ có
những toán TK tiếp theo. TK1 vừa có nhiệm vụ mở đường, vừa tìm
kiếm thăm dò, vừa phải chiến đấu khi cần thiết. Nhiệm vụ rất nặng
nề. Các đồng chí phải xuyên rừng nhiều ngày trên một địa bàn xa lạ
hiểm trở, không dân cư và có thể gặp địch. Trong suốt chuyến đi sẽ
không có sự liên lạc nào với trên, với các đơn vị bạn. Mặt trận sẵn
sàng cung cấp cho TK1 những phương tiện thông tin tốt nhất mà ta
hiện có, nhưng với cự ly đó, những bộ máy thích hợp lại quá cồng
kềnh. Do vậy, khi gặp trở ngại, các đồng chí phải hoàn toàn dựa vào
sức mình chứ không có sự giúp đỡ hỗ trợ nào khác. Chúng ta không
thể tính trước từng phương án cho mỗi tình huống, nhưng bất kỳ
trường hợp nào các đồng chi cũng phải tỉnh táo vận dụng tất cả khả
năng và kinh nghiệm của mình để hành động. Những gì các đồng
chí đã học, đã rèn luyện được qua thực tế công tác chiến đấu, mọi
kiến thức, mọi hiểu biết từng người tích lũy được tử trước đến nay
đều có thể cần đến. Không có trở ngại nào là không thể vượt qua,
nếu chúng ta vững vàng và biết suy nghĩ đúng hướng. Theo kế
hoạch, đường về là đi ngược lại con đường đã đi, nhưng không phải
lúc nào mọi việc cũng diễn ra đúng như dự kiến. Các đồng chí cần
hết sức linh hoạt, tận dụng mọi cơ hội. Và tôi xin nói rằng trong kế
hoạch này, yêu cầu cao nhất là sự trở về của TK1, cho dù không tìm
ra vỉa quặng. Người ta bảo: khi giải một bài toán mà chứng minh
được đề bài ra sai thì coi như hoàn thành phép giải. Còn trong
trường hợp này, chỉ cần xác định cách giải hiện tại không đúng để
tìm cách giải khác, đã là có kết quả. Tất nhiên khi trở về mà mang
theo kết quả tìm kiếm mỹ mãn thì đó là một thắng lợi toàn diện rồi...
Nghe đến đây, bốn chúng tôi đưa mắt nhìn nhau. Ai cũng cảm
động trước sự tin cậy của anh Hai Nguyên. Anh tin chúng tôi sẽ làm
hết sức mình mới chịu quay về.
Sau đó, anh phổ biến cho chúng tôi mật hiệu liên lạc khi cần thiết.
Mật hiệu rất ngắn gọn: nếu nhận được tin "Hoa mai đã nở”, thì đấy
là tín hiệu của tổ tôi báo về, bộ phận chỉ đạo sẽ có cách liên lạc trở
lại. Còn nếu nhận "Hoa mai vàng đã nở” có nghĩa chúng tôi phát
hiện được mục tiêu. Các tỉnh lân cận và các đơn vị bộ đội đóng trên
những địa bàn có liên quan sẽ được thông báo và hướng dẫn cách
xử li khi có người đưa ra tín hiệu này. Đây cũng là mật hiệu để nhận
biết các toán TK tiếp theo.
Anh Hai Nguyên nhìn đồng hồ rồi nói:
– Như vậy tôi đã phổ biến xong. Chắc các đồng chí còn nhiều
điều muốn hỏi, nhưng chưa vội. Giờ cứ nghe tiếp công tác chuẩn bị
và bàn bạc suy nghĩ. Sáng mai ta sẽ cùng nhau trao đổi kỹ hơn.
Anh đưa mắt ra hiệu. Đồng chí thiếu tá đứng lên mỉm cười nhìn
chúng tôi:
– Tôi được giao nhiệm vụ chuẩn bị và hỗ trợ cho TK1. Bây giờ tôi
trình bày về tuyến đường mà các đồng chí sẽ đi, sau đó là phần hậu
cần.
Theo dự kiến, sẽ có xe đưa các đồng chí ngược lên miền tây
Quảng Bình sang Lào rồi theo đường Trường Sơn đi về phía nam.
Đến khe Trầm, - Anh chỉ trên bản đồ - các đồng chí đổ bộ và từ đó đi
thẳng tới tọa độ cần tìm. Trên bản đồ, đoạn này đo được một trăm
mười bảy cây số, tính theo đường chim bay. Từ đây tới gần bắc
đường Chín, có những chặng xe có thể chạy ban ngày. Từ đường
Chín vào xe phải chạy đêm. Vùng này khá nguy hiểm vì thỉnh thoảng
có thám báo địch hoạt động...
Chúng tôi nhìn bản đồ: địa điểm được gọi là khe Trầm nằm trên
đất Lào, gần như đối diện với A Lưới (Thừa Thiên) qua đường biên
giới. Từ đó, chúng tôi phải đi về hướng đông nam, vượt qua biên
giới Lào - Việt vào phần đất nhô ra ngoài cùng của tỉnh Quảng Nam.
Đồng chí thiếu tá nói tiếp:
– Trên cũng đã cân nhắc khả năng đi từ hướng đông lên. Đi theo
hướng này sẽ tranh thủ được sự giúp đỡ của đồng bào ở các bản
dân tộc để tiếp cận mục tiêu gần hơn, nhưng hiện tại có nhiều trở
ngại mà ta chưa thể khắc phục được. Vì thế, con đường tôi vừa
trình bày vẫn là phương án tối ưu lúc này. Còn về hậu cần, đoàn
559 được lệnh cung cấp cho TK1 những thứ tốt nhất hiện có. Đây là
danh mục các trang bị cần thiết cho chuyến đi. - Anh đưa cho chúng
tôi tờ giấy đánh máy - Tuy nhiên, các đồng chí mới là người quyết
định những gì cần mang theo...
Cuộc họp kết thúc lúc trời sắp tới. Sau khi tiễn anh Hai Nguyên
và đồng chí thiếu tá ra cửa, chúng tôi quay vào ngồi xuống bên bàn.
Chưa ai nói gì. Tất cả đều đang suy nghĩ về những điều vừa được
nghe. Hơi lâu sau, anh Đằng lên tiếng:
– Chuyến đi này có vẻ như là một cuộc thám hiểm ấy nhỉ? Vào
bộ đội mười mấy năm, làm đủ mọi thứ việc, nhưng chưa khi nào
mình nghĩ tới chuyện có lúc sẽ đi tìm vàng.
Mọi người cùng cười. Anh Hùng hỏi:
– Này Sơn, chắc cậu đi tìm vàng nhiều rồi phải không - Nghề của
tôi mà?
– Anh Sơn đáp - ở miền Bắc ta đã tìm được một số nơi có vàng,
nhưng thường là vàng ở dạng sa khoáng, chưa bao giờ phát hiện ra
quặng vàng có hàm lượng cao. Nghe nói tại các mỏ vàng ở châu
Mỹ, tảng quặng vàng lớn nhất cũng chỉ nặng mấy chục ký là cùng.
Cho nên tôi rất ngạc nhiên khi có vỉa quặng vàng được phát hiện
qua vệ tinh... Tôi chợt nghĩ, biết đâu Liên Xô họ phát hiện vỉa quặng
từ một nguồn khác, nhưng vì lý do tế nhị nào đó nên không thể nói
thẳng ra được. Hiện nay Liên Xô, và cả Mỹ, đã có nhiều thành tựu
trong sử dụng vệ tinh vào những lĩnh vực khác nhau, kể cả việc
thăm dò tài nguyên khoáng sản, nhưng những kỹ thuật tiên tiến nhất
chủ yếu vẫn tập trung cho lĩnh vực quân sự, tình báo...
Tôi háo hức hỏi:
– Theo anh, liệu ta có tìm được vỉa quặng vàng lớn không?
Anh Sơn tủm tỉm:
- Mọi điều đều có thể xẩy ra, nhưng phải tới nơi mới biết?
Anh Đằng cười:
– Cậu Hải yên trí? Thế nào cũng tìm ra, cậu chuẩn bị sức để
mang, mà nhớ là chỉ được "may túi ba gang” thôi đấy...
Anh Đằng nói đúng. Chúng tôi phải tính toán, chỉ mang theo
nhưng thứ thật cần thiết. Bàn mãi, cuối cùng cũng quyết định: Về vũ
khí, ba chúng tôi mỗi người một AK báng gấp, riêng anh Sơn chỉ
mang K54 vì còn phải đem theo một số dụng cụ cần cho việc thăm
dò địa chất. Súng của chúng tôi còn tốt, không cần cấp mới. Lựu
đạn, thuốc nổ cũng c...
 





